Archive
Bến Hàn Giang
Bến Hàn Giang
Hàn Mặc Tử
Này đây lời ngọc song song
Xin dâng muôn sóng tơ đồng vơi vơi
Xin dâng này máu đang tươi
Này ðây nước mắt giọng cười theo nhau
Mới hay phong vị nhiệm màu
Môi chưa nhấp cạn, mạch sầu đã tuôn
Ớ Ðịch ơi, lệ có nguồn
Hãy chia bớt nửa nỗi buồn sang tôi
Hôm nay trời lửg lơ trời
Dòng sông ánh sáng sẽ trôi hoa vàng
Tôi ngồi ở bến Hàn Giang
Khóc thôi mây nước bàng hoàng suốt đêm.
Bắt Chước
Bắt Chước
Hàn Mặc Tử
Để cho hoa gió thì thào ,
Để cho mây nước nôn nao ,
Quên cầu thương nhớ rồi sao ?
Em ơi thế nghĩa là sao ?
Khi hương thơm kề lỗ miệng ,
Khi tình mới chạm vào nhau ,
Em ơi thế nghĩa là sao ?
Trăng đang nằm trên sóng cỏ ,
Cỏ đưa trăng đến bờ ao .
Trăng lại đẫm mình xuống nước ,
Trăng nước đều lặng nhìn nhau …
Đôi ta bắt chước thì sao ?
AVE MARIA
AVE MARIA
Như song lộc triều nguyên: ơn phước cả,
Dâng cao dâng thần-nhạc sáng hơn trăng.
Thơm-tho bay cho đến cõi Thiênđdàng
Huyềnđiệu biến thành muôn kinh trọng-thể.
Và Tổng-lãnh Thiên-thần quỳ lạy Mẹ
Tung-hô câu đường-hạ ngớp châu sa.
Hương xông lên lời ca ngợi sum-hòa:
Trí miêuđuệ của muôn vì rất thánh.
Maria! Linh-hồn tôi ớn lạnh,
Run như run thần-tử thấy long-nhan,
Run như run hơi thở chạm tơ vàng…
Nhưng lòng vẫn thấm-nhuần ơn trìu-mến.
Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn
Giàu nhânđdức, giàu muôn hộc từ-bi,
Cho tôi dâng lời cảm-tạ phò nguy
Cơn lâm-lụy vừa trải qua dưới thế.
Tôi cảmđdộng rưng-rưng hai dòng lệ:
Dòng thao-thao như bất-tuyệt của nguồn thơ.
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua,
Trí tôi hớp bao nhiêu là khí-vị…
Và trong miệng ngậm câu ca huyền-bí,
Và trong tay nắm một vạn hào-quang…
Tôi no rồi ơn võ-lộ hòa chan.
Tấu lạy Bà, Bà rất nhiều phép lạ,
Ngọc Như-Ý vô-tri còn biết cả,
Huống chi tôi là Thánh-thể kết tinh
Tôi ưa nhìn Bắcđdẩu rạng bình minh,
Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế-giới…
Sáng nhiều quá cho thanh-âm vời-vợi,
Thơm dường bao cho miệng lưỡi khong-khen.
Hỡi Sứ-thần Thiên-Chúa Gabriel,
Khi người xuống truyền tin cho Thánh-nữ,
Người có nghe xôn-xao muôn tinh-tú,
Người có nghe náođdộng cả muôn trời?
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca-tụng, — bằng hương hoa sáng-láng,
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng,
Một đêm xuân là rất đỗi anh-linh?
Đây rồi! Đây rồi! Chuỗi ngọc vàng kinh.
Thơ cầu-nguyện là thơ quân-tử ý,
Trượng-phu lời là Tôngđdồ triết-lý,
Là Nguồn Trăng yêu-mến Nữ Đồng-Trinh
Là Nguồn Đau chầu lụy Nữ Đồng-Trinh.
Cho tôi thắp hai hàng cây bạch-lạp,
Khói nghiêm-trang sẽ dân lên tràn ngập
Cả Hàn-giang và màu sắc thiên-không,
Lút trí khôn và ám-ảnh hương lòng
Cho sốt-sắng, cho đe-mê nguyền-ước…
Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn-phước,
Cho tình tôi nguyên-vẹn tợ trăng rằm,
Thơ trong-trắng như một khối băng-tâm,
Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu,
Cho vỡ-lở cả muôn ngàn tinhđdẩu,
Cho đê-mê âm-nhạc và thanh-hương,
Chim hay tên ngọc, đá biết tuổi vàng,
Lòng vua chúa cũng như lòng lê-thứ
Sẽ ngây-ngất bởi chưng thơ đầy ứ
Nguồn thiêng-liêng yêu-chung Mẹ Sầu-Bi
Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì!
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu,
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều-thiên ngời chói vạn hào-quang?
Âm Thầm
Âm Thầm
từ gió xuân đi, gió hạ về
anh thường gửi gắm mối tình quê
bên em mỗi lúc trên đường cái
hóng mát cho lòng được thoả thuê !
em có ngờ đâu trong những đêm
trăng ngà giãi bóng mặt hồ êm
anh đi thơ thẩn như ngây dại
hứng lấy hương nồng trong áo em
bên khóm thuỳ dương em thướt tha
bên này bờ liểu anh trông qua
say mơ vướng phải mùa hương ướp
yêu cái môi hường chẳng nói ra
độ ấy xuân về em lớn lên
thấy anh em đã biết làm duyên
yêu dấu lòng anh ôm hận riêng.
Âm Nhạc
Âm Nhạc
Tinh hơn đồng trinh
Hừng qua hừng đông
Em mình nghe không
Im chưa nên đông
Say chưa ra lòng
Đều ngâm giấm cả .
Màu nào sắp rã
Vồng nào sắp cao
Ánh nào tương giao
Muôn thương đều lắng
Nhấn nào khăn khắn
Nhịp nào âu lo
Em hãy cầu cho .
Tinh hơn đồng trinh
Hừng quá hừng đông
Em mình nghe không?
Nhạc vàng tỏ rõ
Như sao trên trời
Đem nguyền ra phơi
Đem phần ra phơi
Ân tình tri ngộ
Trước đời trăng lên.
Em hãy làm duyên
Em cứ y nguyên
Đàn rơ tơ riết
Cả lòng đam mê .
In hình tưởng nhớ
Như tuồng ai ra
Như tuồng lân la
Đâu đây quyến luyến
Đố Nàng gần xa .
Màu không thấy ửng
Mùi qua linh thiêng
Những cốt cách tiên
Thảy đều cảm biết
Khi lòng xin thương
Lên gần đài Trăng
Hương ráng sức hương
Bừng bừng cao trăng.
Dâng lên quá trí
Quá giải Hàn Giang
Đố Nàng nói sao .
Trong nụ cười nao
Trong búp hoa nào
Có gì phôi thai .
Sao vấn vương hoài
Sao đầm hơi thở
Hương đầm hơi nhớ
Hương đầm hơi quen
Đố Nàng hay em.
(Thượng Thanh Khí)
TƯỞNG NIỆM VÀ VINH DANH CỐ THI SĨ HÀN MẶC TỬ
TƯỞNG NIỆM VÀ VINH DANH CỐ THI SĨ HÀN MẶC TỬ
Nguyễn Long Thao
Khi nói về các bản thánh ca lừng danh thế giới, người ta thường nhắc tới bài Hallelujah của George Frederick Handel. Bài này được trích trong vở đại nhạc kịch Đấng Cứu Thế – The Messiah – mô tả cuộc đời của Chúa từ lúc sinh ra đến khi vinh hiển sống lại. Theo lời Handel kể, ông sáng tác nhạc kịch này để tạ ơn Chúa vì đã cứu ông khỏi bệnh bán thân bất toại. Ông say sưa ngồi trên phím đàn trong 21 ngày để sáng tác, và khi chấm dứt nốt nhạc cuối cùng, ông đã ngã lăn ra bất tỉnh.
Tại Việt Nam, đọc lịch sử văn học cận đại, người ta cũng gặp một trường hợp khá tương tự với hoàn cảnh của Handel. Một thi sĩ Công Giáo có bút hiệu là Hàn Mặc Tử, mới 24 tuổi, hầu như điên loạn khi biết mình mắc bệnh ghê tởm phong cùi. Chàng đã đi tìm nguồn an ủi ở gia đình, bạn bè, người thân, người tình. Nhưng tất cả đều không làm cho chàng khuây khoa được tâm trạng đau khổ, mà lúc nào cũng bị ám ảnh bởi sự chết. Từ đó, chàng đâm ra tuyệt vọng rồi sáng tác những vần thơ đau thương, mà chàng gọi là Thơ Điên. Sau cùng, nhờ ân sủng siêu nhiên, chàng đã tìm thấy nguồn an ủi nơi Chúa và Mẹ Maria. Chàng đã vui vẻ với số phận, và như nhạc sĩ Handel, chàng đã sáng tác thi phẩm Xuân Như Ý để ca tụng Thiên Chúa và Mẹ Maria.
Các nhà phê bình văn học sử Việt Nam đã đặt thi sĩ ngang hàng với nhà văn Công Giáo Pháp nổi tiếng thế giới là Paul Claudel. Nhà phê bình văn học, ông Trần Thanh Mại, trong tác phẩm Hàn Mặc Tử , xuất bản năm 1941 tại Saigon đã ước mong những bài thơ như Thánh Nữ Ðồng Trinh của Hàn Mặc Tử, phải được đệ trình lên Đức Khâm Sứ Toà Thánh ở Việt Nam và Đức Giáo Hoàng ở La Mã. Nay thì tên tuổi Hàn Mặc Tử đã được đưa vào lịch sử văn học Việt Nam, và linh mục sử gia Phan Phát Huồn đã dành cho chàng một chỗ xứng đáng trong tác phẩm Việt Nam Giáo Sử. Các tạp chí văn học nghệ thuật, như Tập San Văn, xuất bản tại Saigontrước 1975 đã viết nhiều bài khảo cứu về Hàn Mặc Tử. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã cảm hứng từ mối tình Hàn Mặc Tử – Mộng Cầm, sáng tác bài Hàn Mặc Tử mà ngày nay không mấy ai là không biết đến nhạc phẩm này. Trước năm 1975 trên sân khấu cải lương, người ta thấy vở tuồng Hàn Mặc Tử được trình diễn nhiều lần tại Saigòn và các tỉnh. Nhạc sư Hải Linh, một thiên tài về âm nhạc hợp xướng, đã phổ nhạc cho một số bài thơ nổi tiếng của Hàn Mạc Tử. Nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã xuất bản cuốn băng CD có tên Trường Ca Hàn Mặc Tử trong đó gồm nhiều bài thơ của Hàn Mặc Tử được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, Duy Cường hoà âm, với các giọng hát của Duy Quang, Thái Hiền, Tuấn Ngọc và Thái Thảo. Gần đây nhất, năm 1998, nhà xuất bản Văn Học tại Việt Nam đã cho phát hành tác phẩm : Đi Tìm Chân Dung Hàn Mặc Tử mà tác giả là ông Phạm Xuân Tuyển đã bỏ ra 30 năm để sưu khảo về cuộc đời thi sĩ Hàn Mặc Tử. Qua báo chí, chúng tôi cũng được biết thêm là một cuộc hội thảo lớn về nhà thơ Hàn Mặc Tử đã được tổ chức tại Quy Nhơn vào tháng 11 năm 2000, nhân dịp lễ giỗ lần thứ 60 của nhà thơ tài hoa này. Ngày nay tên tuổi Hàn Mặc Tử không còn xa lạ với quần chúng Việt Nam nữa.
Giống như các thiên tài khác trên thế giới, đời sống của Hàn Mặc Tử có nhiều chuyện đặc biệt. Về phương diện thi ca, các nhà phê bình văn học coi thơ của chàng như là hình ảnh tiêu biểu cho một thời đại văn học thế hệ 1930-1945, chịu ảnh hưởng văn hoá tây phương. Về phương diện tôn giáo, nếu nghiên cứu đời sống tâm linh của thi sĩ, qua bút tích để lại, ta sẽ thấy chàng là một chiến sĩ Phúc Âm trong môi trường văn học và nghệ thuật.
Với các lý do trên đây, chúng tôi viết loạt bài này nhằm giới thiệu với đồng bào Công Giáo cũng như không Công Giáo về thân phận và các nguồn thi cảm của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Nội dung các bài viết tập trung vào ba chủ đề:
I. Đời sống Hàn Mặc Tử trước khi vào trại cùi Quy Hòa.
II. Hàn Mặc Tử trong trại cùi Quy Hòa.
III. Những nguồn thi cảm của Hàn Mặc Tử.
Chúng tôi xin coi các bài viết này như những bó hoa để tưởng niệm và vinh danh một chiến sĩ Phúc Âm đã chiếm một ngôi vị rất cao trong nền văn học và nghệ thuật Việt Nam. Người chiến sĩ ấy đã một lần cao giọng ngâm:
Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!
Run như run thần tử thấy long nhan,
Run như run hơi thở chạm tơ vàng.
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.
Chúng tôi cũng xin dâng tặng các bài viết này đến những người đang mắc bệnh trầm kha, vô phương cứu chữa. Ước mong những quý vị ấy, cũng sẽ như Hàn Mặc Tử, tìm được nguồn an vui và hy vọng nơi Chúa và Mẹ Maria .
Nội dung các bài viết dựa trên các tài liệu của nhiều tác giả như Trần Thanh Mại, Quách Tấn, Hoài Thanh, Hoài Chân, Võ Long Tê, Nguyễn Tấn Long, Nguyền Hữu Trọng, Trịnh Vân Thanh, Phạm Xuân Tuyển, Huy Phong, Yến Anh và linh mục Phan Phát Huồn.
I. ĐỜI SỐNG HÀN MẶC TỬ TRƯỚC KHI VÀO TRẠI CÙI QUY HOÀ
Hàn Mặc Tử sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912. Theo gia phả, ông nội của thi sĩ là Phạm Bồi, quê ở Thanh Hóa, di cư vào Thừa Thiên và đổi tên là Nguyễn Bồi. Cụ Bồi được một linh mục thừa sai Pháp, tên là cố Đồng, giúp cho lập nghiệp tại xứ Ồ Ồ, cách Huế độ 30 cây số.
Cụ Bồi có người con trai là Nguyễn Toản. Khi trẻ, cậu Toản được cố Đồng đỡ đầu cho đi tu và học tại Đại Chủng Viện Huế. Thầy Toản chịu bốn chức, nhưng xét thấy không có ơn kêu gọi làm linh mục, nên đã xin bề trên ra ngoài, lập gia đình với cô Nguyền Thị Duy là con gái vị ngự y nổi danh triều Tự Đức. Ông Toản ban đầu làm thông ngôn cho Toà Sứ ở Hội An, làm Ký Lục cho sở Thương Chánh, sau thi đậu Tham Tá và được bổ nhiệm giữ chức Chủ Sự Phòng Thương Chánh ở Đồng Hới. Chính nơi đây ông bà Nguyễn Toản sinh hạ cậu Nguyễn Trọng Trí, tức thi sĩ Hàn Mặc Tử. Ông Bà Toản có sáu người con tên là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, và Hiếu. Cậu Nguyễn Trọng Trí là con thứ tư, bị đau yếu từ lúc mới sinh. Khi rửa tội cha xứ đặt tên thánh cho cậu là Phanxicô, và khi chịu phép thêm sức, tên thánh của cậu là Phanxicô Xaviê.
Ban đầu, cậu Trí được khai tâm tại trường của các chị dòng Mến Thánh Giá xứ Tam Toà, rồi vì là công chức, ông thân sinh phải đổi đi nhiều nơi, nên cậu Trí đã theo học ở nhiều chỗ. Đến năm 1926, lúc cậu lên 14 tuổi, thì ông thân sinh mất, bà mẹ đem cả gia đình về Quy Nhơn sinh sống. Tại đây cậu bắt chước ông anh là Nguyễn Bá Nhân làm thơ, và lấy bút hiệu đầu tiên là Minh Duệ Thị. Hai anh em thi nhau xướng hoạ và theo các nhà phê bình văn học, thì thơ của cậu em có vẻ xuất sắc hơn thơ của ông anh. Nhưng thân mẫu không muốn con suốt ngày cứ ngâm với vịnh, bà muốn con có một nền giáo dục tốt, một căn bản đạo đức vững chắc, nên không ngại tốn hao tiền của, gửi con ra trường trung học Pellerin ở Huế để các Sư Huynh Công Giáo dậy dỗ.
Thời bấy giờ, Huế là nơi sinh hoạt văn học nghệ thuật, nên công việc đầu tiên của Trí là đổi ngay một bút hiệu khác: bút hiệu Phong Trần. Nhà thơ Phong Trần lúc này còn rất trẻ, rất mộng mơ, nhưng đã đều đều sáng tác thi ca để đăng các báo ở Huế, Saigòn. Thơ của Phong Trần lúc này chưa tuyệt hảo lắm, nhưng cũng làm cho thi sĩ Quách Tấn say mê, cảm phục. Nhờ đó, mà tình bạn giữa Quách Tấn vã Nguyễn Trọng Trí sau này triển nở một cách tốt đẹp.
Việc học của cậu Trí ở Huế tỏ ra không khởi sắc lắm, ngoại trừ việt văn là đạt kết quả tốt, còn các môn học khác như toán, khoa học, ngoại ngữ chỉ đạt kết quả trung bình. Không bao lâu, thấy việc học hành không hứng thú, cậu Trí nhất quyết giã từ mái trường, mặc những lời khuyên bảo tha thiết của bà mẹ. Thời gian đó là năm 1930, lúc cậu Trí được đúng 18 tuổi.
Tại sao Nguyễn Trọng Trí nhất quyết theo đuổi thú làm thơ? Ta hãy nghe chính anh tâm sự:
Ai nói vườn trăng là nói vườn mơ. Ai nói bến mộng là nói bến tình. Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo..
Trên đầu Người là cao cả vô biên, và vô lượng; chung quanh Người là mơn trớn với yêu đương vây phủ bằng trăm dây quyến luyến, làm bằng êm dịu, làm bằng thanh bai ….. Gió phương mô đẩy đưa Người đến bờ xa lạ, đầy trinh tiết và đầy hương sắc. Người dừng lại để bái những lá tinh hoa. Người nín lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang như tiếng châu báu vỡ lở. À ! Ra Người cũng dại dột hốt vàng rơi bọc trong vạt áo.
Trí Người đã dâng cao và thơ Người dâng cao hơn nữa. Thì ra Người đang say sưa đi trong Mơ ước, trong Huyền diệu, trong Sáng láng và vượt hẳn ra ngoài Hư linh…
Tôi làm thơ ?
Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng.
Anh sẽ thấy hơi đàn lả lướt theo hơi thở của hồn tôi và chìu theo những sóng điện nóng ran trút xuống bởi năm đầu ngón tay uyển chuyển.
Anh sẽ run theo khúc ngân nga của tơ đồng, sẽ để mặc cho giai âm rền rĩ nuối không ngưng.
Và anh sẽ cảm giác lạ, nhìn không chớp mắt khi một tia sáng xôn xao, tại có vì Sao vỡ. Những thứ ấy là âm điệu của thơ tôi, âm điệu thiêng liêng tạo ra trong khi máu cuồng rên vang dưới ngòi bút.
Tôi làm thơ ?
Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật.
Và nghĩa là tôi mất trí, tôi phát điên.
Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào tiếng rú . . . Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi?
Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng phổi, bằng tim, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận hờn đến gần đứt sự sống.
Thôi mời cô cứ vào …
Ánh sáng lạ trong thơ tôi sẽ làm cho gò má cô đỏ gấc. Và một khi cô đã vào là cô sẽ lạc, vì vườn thơ tôi rộng rinh, không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh.
Lý do Hàn Mặc Tử rời mái trường theo nghiệp làm thơ là thế đó. Nhưng cuộc sống bắt buộc chàng phải đi kiếm việc. Chàng chấp nhận làm thơ ký cho một hãng buôn để sinh sống. Đến năm 1931, bút hiệu Phong Trần đột nhiên nổi tiếng trong chốn thi giới ở kinh đô Huế. Số là cụ Phan Bội Châu, một chiến sĩ cách mạng chống Pháp, đang bị an trí tại Huế, muốn quy tụ giới trí thức yêu nước, đã mở một thi đàn lấy tên là Mộng Du Thi Xã. Thơ phú bốn phương gửi về rất nhiều. Nhà thơ Phong Trần Nguyễn Trọng Trí, lúc ấy mới 19 tuổi, cũng gửi 3 bài tham dự. Không ngờ, 3 bài đó là: Đêm Không Ngủ, Chùa Hoang, Gái Ở Chùa đã được cụ Phan Sào Nam nhiệt liệt khen ngợi. Cụ họa lại và cho đăng báo để giới yêu thơ cả nước thưởng thức. Cụ còn cẩn thận viết thêm lời khen tặng như sau:
Từ khi về nước đến nay, được xem nhiều thơ văn quốc âm, song chưa gặp được bài nào hay đến thế. Hồng Nam, Nhạn Bắc. Ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau, cười to một tiếng, ấy là thỏa hồn thơ đó.
Lời khen nồng nhiệt đó làm Nguyễn Trọng Trí hứng khởi, chàng liền ra Huế, hội kiến với cụ Phan Bội Châu, và bắt đầu sáng tác thi ca kêu gọi lòng yêu nước. Chính vì lýdo này mà Nguyễn Trọng Trí đã bị sở Mật Thám Pháp theo dõi, và gạc tên khỏi danh sách các học sinh sang Pháp du học, mặc dù chính cụ Nguyễn Hữu Bài, vị thượng quan triều đình Huế lúc bấy giờ, tích cực can thiệp, giúp đỡ.
Năm 1932 cậu Trí xin được việc làm ở Sở Đạc Điền Quy Nhơn. Công việc ở đây không bận lắm, cậu có nhiều thì gi đọc sách. Trong cuốn sổ ghi tên người mượn sách ở thư viện, người ta thấy tên của cậu đã chiếm quá nửa. Và cũng tại đây, chàng đem lòng yêu Hoàng Cúc, con gái ông chủ sự mà chàng đang làm dưới quyền. Mối tình đang xuôi xắn êm đẹp, thì bị cha cô chấm dứt, với lý do: chàng không xứng mặt với con gái của ông. Buồn vì bị khinh thường, Nguyễn Trọng Trí xin nghỉ việc và lên Đà Lạt thăm thi sĩ Quách Tấn. Đó là đầu năm 1933 lúc cậu Trí vừa tròn 21 tuổi.
Tại Đà Lạt, thi sĩ Quách Tấn đưa Nguyễn Trọng Trí đi thăm danh lam thắng tích. Trí sống ở đây không lâu lắm, song vẻ đẹp huyền mơ của Đà Lạt đã ảnh hưởng sâu đậm vào thi hứng của Trí, giúp ông sáng tác bài Đà Lạt Trăng Mờ. Cố nhạc sư Hải Linh đã phổ nhạc cho bài thơ này, và chính ông đã điều khiển ca đoàn Hồn Nước trình diễn bài Đà Lạt Trăng Mờ.
CUỘC ĐỜI LÀM BÁO CỦA HÀN MẶC TỬ
Khi làm việc ở Sở Đạc Điền Quy Nhơn, Nguyễn Trọng Trí vẫn sáng tác thơ để đăng các báo ở Saigon, Huế với bút hiệu thứ ba là Lệ Thanh. Rồi năm 1934 Nguyền Trọng Trí vào Nam, được ông bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận trao cho trọng trách trông coi trang văn học của tờ báo có tên là Sàigòn. Sau đó, chàng đứng ra chủ trương tờ Công Luận Văn Chương và viết giúp cho một số báo khác như: Trong Khuê Phòng, Tân Thời. Chính vào thời gian này, Nguyễn Trọng Trí lấy bút hiệu thứ tư là Hàn Mạc Tử.
Khi sưu tầm về bút hiệu của Nguyễn Trọng Trí, ông Phạm Công Thiện, trong báo Lành Mạnh, số 38, ra ngày 1-11-1959, đã cho biết như sau:
“Trong đời thi sĩ của Nguyễn Trọng Trí (tên thật của Hàn Mặc Tử) thi nhân tuần tự lấy những biệt hiệu như sau: Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh, Hàn Mạc Tử, và sau cùng là Hàn Mặc Tử”.
Mới chập chững bước vào làng thơ, thi nhân lấy hiệu Minh Duệ Thị, ít ai biết biệt hiệu này. Nguyễn Trọng Trí bắt đầu nổi danh với hiệu Phong Trần. Một
hôm thi sĩ Quách Tấn vừa chê vừa đùa:
Tướng anh mảnh khảnh thế ni, chịu sao nổi cảnh phong trần mà ước?
Một bà cụ thâm nho ở Bình Định cũng cho hiệu Phong Trần quá trệ và không thích hợp với con người của Tử. Bà có khuyên Tử nên đổi bút hiệu khác.
Thi nhân mới lấy chữ đầu của sinh quán (Lệ Mỹ) và chữ đầu của chính quán (Thanh Tân) ghép lại thành hiệu Lệ Thanh.
Ít lâu sau, Quách Tấn lại chê khéo:
Bộ anh ngó dễ thương mà cái hiệu Lệ Thanh nghe cũng yểu điệu thục nữ quá! Âu là tôi gọi cô Lệ Thanh cho thêm duyên.
Nguyễn Trọng Trí làm thinh và ít lâu sau, người ta thấy ông đổi lại là Hàn Mạc Tử. Hàn Mạc là bức rèm lạnh. Nhưng Quách Tấn lại có ý kháy nữa:
Kể cũng ngộ thật! tránh kiếp phong trần, lại đòi làm khách hồng nhan. Sợ khách hồng nhan đa truân, lại đòi làm kiếp rèm lạnh. Tránh lờ, chun vào lưới. Sao mà lẩn thẩn quá thế?
Nguyễn Trọng Trí nổi xung hầm hừ:
Anh này thật đa sự, không biết đặt cái đếch gì cho vừa lòng anh?
Quách tấn cười và nói rất ý vị, dí dỏm:
Đã có rèm thì thêm bóng nguyệt vào. Hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng.
Tinh ý, Nguyễn Trọng Trí khoái trá, giằng bút vạch thêm vành trăng non trên đầu chữ A thành hiệu Hàn Mặc Tử. Chỉ thêm vào một dấu (Á) mà ý nghĩa đã biến hẳn: Chữ Hàn trước kia có nghĩa là lạnh, nhưng ghép với chữ Mặc (mực) thì trở thành nghĩa là bút.
Hàn Mặc Tử có nghĩa là anh chàng bút mực.
Nguyễn Trọng Trí sửa xong, rồi nói một câu bất tử:
Đã có bóng trăng rọi vào, thi từ nay danh tôi cũng như văn chương của tôi sẽ mỗi ngày mỗi rạng ngời như bóng trăng”.
Ấy câu chuyện về bút hiệu Hàn Mặc Tử đại khái là thế. Năm 1936 Tân Dân có xuất bản thi phẩm đầu tiên của Hàn, ta thấy biệt hiệu tác giả in rõ ràng là Hàn Mặc Tử. Nội bấy nhiêu chúng ta cũng có một chứng cớ hùng hồn rồi.
Biệt hiệu sau cùng Hàn Mặc Tử đã đưa tên tuổi Nguyền Trọng Trí đi vào lịch sử văn học Việt Nam, đồng thời được Linh Mục sử gia Phan Phát Huồn ghi lại tiểu sử và sự nghiệp văn chương trong mục các Nhà Văn Công Giáo của tác phẩm Việt Nam Giáo Sử.
Ở Saigon, Hàn Mặc Tử cùng với ba người bạn là các nhà văn Hoàng Trọng Miên, Thúc Tề và họa sĩ Việt Hồ, thuê căn gác của căn nhà số 107, đường Espagne, tức đường Lê Thánh Tôn bây giờ. Căn gác không đèn, không đóm nên mỗi lần muốn viết lách, họ phải mở cửa để điện đường rọi vào, rồi nằm bò trên sàn nhà mà viết. Họ nghèo đến độ không đủ tiền mua ghế bố, đêm đến, cứ quét sạch sàn nhà, rồi lăn ra đó mà ngủ. Tuy mang tiếng là nhóm làm báo, nhưng lúc ấy, mới chỉ có Hàn Mặc Tử có chỗ làm, còn ba anh kia, là những người đang chờ việc, mang thân phận ăn bám. Tính tình của Tử rất dễ dãi, ai cũng thân thiện được, và ai cũng lợi dụng được. Một người bạn ở chung với Tử đã thú nhận rằng:
Đời của Trí có thể tóm tắt lại trong hai đặc điểm: Một là ở bẩn vô thiên số; Hai là không bao giờ mất lòng anh em.
Lời phê bình ấy thật xác đáng. Trần Thanh Mại, trong tác phẩm Hàn Mặc Tử, xác nhận như sau:
Hàn Mặc Tử có một quan niệm cổ quái về phép giữ vệ sinh cá nhân. Quần áo mặc trót tháng mà không thay đổi, thân hình thì suốt năm không hề tắm gội. Cứ thế mà chàng đi lang thang khắp phố Saigòn, không trông ai, không ngó ai, chỉ ngâm và đọc thơ của mình.
Theo lời kể của ông Nguyễn Bá Tín, em ruột thi sĩ, trong tác phẩm Hàn Mặc Tử Anh Tôi, thì một lần hai anh em tắm biển, Hàn Mặc Tử suýt bị chết đuối, nên từ đó về sau, Hàn rất sợ nước, sợ luôn cả việc tắm giặt.
Vì tính tình, Hàn Mặc Tử rất phóng khoáng, bao nhiêu chi phí ăn ở đều do một mình Hàn Mặc Tử gánh chịu nên không bao lâu, Tử bắt đầu mắc nợ. Các món nợ cứ mỗi ngày thêm chồng chất. Rồi, một ngày kia, các bạn của Tử âm thầm mỗi người một ngả, chỉ còn lại mình Tử nên ông thợ giặt bó buộc phải bắt giữ hai cái quần, và ông chủ nhà cho thuê phải cầm giữ cái va li để thế nợ. Gia đình Hàn Mặc Tử đã kể với Trần Thanh Mại về trường hợp này:
Ra đi làm ăn lúc quá nửa năm, với chiếc va li đầy quần áo, thế mà khi tiếng pháo giao thừa nổ, Hàn Mạc Tử lững thững trở về gõ cửa với hai bàn tay trắng.
Đời sống vật chất có vẻ bất cần như vậy, nhưng đời sống tinh thần của Hàn Mặc Tử tỏ ra rất lành mạnh. Nhà văn Hoàng Trọng Miên, một trong ba người ở chung với Tử, đã viết về đời sống gương mẫu của chàng như sau:
Ngoài chuyện thơ văn ra, Hàn Mặc Tử không biết gì khác nữa. Sống chung với các bạn đang độ trai trẻ, hăng say, lại ở trong không khí phóng túng của văn nghệ, nhưng Tử theo một nếp sống thật hiền lành, yên dịu, ngoan ngoãn như một thư sinh chăm chỉ đèn sách.
Ở một đoạn khác, Hoàng Trọng Miên viết thêm:
Đời sống xa hoa, ăn chơi đặc biệt của xã hội Saigòn trước chiến tranh thứ hai cũng như những thú đam mê về nhan sắc phù dung, rượu … phổ biến trong giới cầm bút thời đó, không hề ảnh hưởng gì đến Hàn Mặc Tử. Tử sống nhút nhát, e thẹn đến độ mỗi khi các bạn trai nói chuyện dính líu tới đàn bà, con gái là Tử đỏ mặt lên và lặng lẽ tránh đi chỗ khác.
CƠN BỆNH HIỂM NGHÈO
Vào cuối năm 1936, nghĩa là sau khi làm báo ở Saigon được gần hai năm, Hàn Mặc Tử trở về miền Trung, và đang lúc chuẩn bị vào lại Saigòn, thì chàng bắt đầu cảm thấy ngứa ngáy toàn thân, đôi khi thấy tai, mũi ửng đỏ. Ban đầu, chàng và gia đình nghi ngờ không biết có phải là triệu chứng của bệnh cùi hay không? Cả nhà đi tìm nguyên nhân để giải thích. Họ xét gia phả, thì gia đình hai bên nội ngoại không có ai mắc chứng bệnh ấy. Họ không tìm ra nguyên nhân, nhưng đặt nghi vấn vào cổ thuyết dân gian cho rằng khi còn làm việc ở Sở Đạc Điền vào những năm 1932-1933, Hàn Mặc Tử thường hay đi qua làng mạc vùng quê, vào sáng sớm hay đêm khuya, có khi đi qua những bãi tha ma vào ngày mưa to gió lớn, do đó mà có thể đã mắc bệnh cùi.
Theo thi sĩ Quách Tấn, trong sách Đôi Nét Về Hàn Mặc Tử, thì chính Hàn Mặc Tử cũng tin vào cổ thuyết trên. Chàng kể lại cho Quách Tấn và Quách Tấn viết lại nguyên nhân mắc bệnh như sau:
Tử có một người bạn gái ở Phan Thiết, hai bên hẹn nhau chiều thứ Bảy nọ cùng chơi Lầu Ông Hoàng. Tử đi xe tốc hành ra Phan Thiết. Đến ga thì đã thấy cô bạn đứng đợi.
Đêm hôm ấy có trăng nên hai người rủ nhau đi bộ. Giữa đường bỗng trời phát mưa giông. Chung quanh không nhà không quán. Hai người dắt nhau vào núp dưới bia một ngôi mộ trong nghĩa địa ở cạnh đường. Cách nhà bia chừng vài ba mươi thước, có một túp lều tranh xiêu vẹo tồi tàn. Ngoài ra chỉ có mả con mả lớn.
Gió mỗi lúc một mạnh, mây kéo mỗi lúc một dầy, rồi mưa đổ. Trời tối đen như mực, sấm chớp vang dậy tứ bề. Cảnh thật rùng rợn. Bỗng nơi túp lều tranh xiêu vẹo, tồi tàn kia vụt lóe ánh lửa. Ánh lửa cứ hừng lên rồi lại tắt, tắt rồi lại hừng lên. Đồng thời lại nghe tiếng rên ầm ầm như tiếng thùng sắt lăn trên đường trải đá. Hai người sợ rởn ốc, song không biết làm sao được, đành phải ôm nhau ngồi đợi mưa.
Mưa vừa ngớt hột, hai người dắt nhau chạy, băng nhào trên mồ cũ mả mới, chạy một mạch về nhà. Sau đêm hôm ấy, trong mình Hàn Mặc Tử thấy ngứa ngáy , nhất là đôi chân.
Khi biết mình thực sự mắc bệnh cùi rồi, Hàn Mặc Tử, lúc ấy vừa 24 tuổi, không còn quan tâm gì đến vấn đề nguyên nhân nữa. Thực tế nó nằm ỳ ra đấy. Nó ghê gớm quá, nó nghiệt ngã quá. Nó làm cho Hàn Mặc Tử ớn lạnh, hoảng hốt, tuyệt vọng. Đồng thời, trong quãng thời gian này, Mộng Cầm, người yêu của chàng lại đi lấy chồng. Nên bao nhiêu đau khổ do bệnh tật và cuộc tình đổ vỡ, đã làm cho chàng bị thác loạn tinh thần, tâm hồn như hoàn toàn bị tan rã.
Thế rồi, bệnh càng ngày càng tăng, Hàn Mặc Tử, một phần muốn tránh lây bệnh cho gia đình, phần khác sợ dân chúng biết báo Sở Vệ Sinh bắt về trại cùi, nên vào khoảng đầu năm 1937, gia đình âm thầm gửi Hàn Mặc Tử đi lánh bệnh ở nhiều nơi trong tỉnh Bình Định như Xóm Động, Xóm Tần, Ghềnh Ráng, Gò Bồi. Tại Gò Bồi, căn nhà chàng ở chỉ là túp lều tranh vách đất, giữa đồng không mông quạnh, cách Quy nhơn 15 cây số. Hàng ngày gia đình phải lén lút tiếp đồ ăn cho Tử.
Chàng cũng tuyệt giao với bạn bè. Chàng cấm người nhà không được loan tin chàng mắc bệnh. Bao nhiêu thư từ gửi tới, chàng đều không trả lời. Tuy nhiên, tin chàng bị bệnh rồi cũng được thiên hạ loan ra. Thi sĩ Quách Tấn, bạn chí thân của Hàn Mặc Tử kể về chuyện này như sau:
Cuối năm 1937, một người bạn gái ở Quy Nhơn vào Nha Trang cho biết Tử mắc bệnh nan y. Chẳng khác một cơn ác mộng bao vây, lòng tôi mong đó là tin thất thiệt. Nhưng lẽ nào một người bạn lại đi chúc dữ một người bạn như thế. Tôi không dám ngờ, nhưng cũng không dám tin. Tôi bèn theo địa chỉ của người bạn gái cho, viết thư ra hỏi Tử. Tôi liền được một phúc thư, một bức thư đầy thương cảm.
Anh ơi, gần một năm nay muốn dấu anh nên không viết thơ cho anh, lòng tôi hết sức đau khổ. Song thà chịu đau khổ còn hơn cho anh biết, khiến anh phải đau khổ vì tôi. Nay thì không thể dấu anh được nữa, đành nói thực cùng anh.
Khi Hàn Mặc Tử ở Gò Bồi, bà mẹ cố chạy chữa thuốc thang cho con. Nhưng điều đáng chú ý là chàng không chịu uống thuốc Tây, mà chỉ tin vào thuốc Nam, thuốc Bắc. Nghe đâu có thầy hay, thầy giỏi thì dù phải trèo non, lặn suối, chàng và mẹ chàng cũng lặn lội tới nơi. Hết nơi này, sang nơi khác, nhưng tiền vẫn mất, tật vẫn mang. Có khi mới uống thuốc của ông lang này được vài ba thang, lại nghe chỗ khác có ông lang hay hơn, thế là chàng và mẹ chàng lại lặn lội tới nơi. Vì tâm trạng nóng lòng như vậy, nên nhiều phen, chàng bị phạm thuốc. Hơn nữa chữa bệnh cùi là phải dùng các vị độc chất để diệt trùng, nên thuốc đã hành hạ thân xác chàng. Lắm bận, chàng bị mờ cả đôi mắt trong năm bảy hôm. Và có khi, vì trái thuốc, chàng đã chết đi sống lại ba bốn lần.
Theo các sử gia viết về Hàn Mặc Tử, chính những giây phút nguy kịch đó, Mẹ Maria đã hiện đến cứu chữa chàng. Chính chàng cũng nhận điều đó và đã viết lên bài thơ Thánh Nữ Đồng Trinh để cảm tạ Đức Mẹ. Đây là một số câu trích trong bài thơ nói trên:
Lậy Bà là đấng tinh tuyền thanh vẹn
Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi,
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế
Tôi cảm động rưng rưng hai dòng lệ:
Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua
Trí tôi hớp như bao là khí vị
Và trong miệng ngâm câu ca huyền bí
Và trong tay nắm một nạm hào quang.
Thi sĩ Quách Tấn, người bạn thân tình nhất của Hàn Mặc Tử, không phải là người Công Giáo, nhưng đã làm chứng về chuyện Đức Mẹ cứu chữa chàng như sau:
Một đêm Tử nằm mộng thấy Đức Mẹ Maria lấy nhành dương liễu nhúng nước thánh rảy khắp mình Hàn Mặc Tử, Tử cảm thấy ớn lạnh. Cho nên khi cầm viết được, Tử liền soạn bài Thánh Nữ Đồng Trinh để tạ ơn Đức Mẹ.
Còn nhà phê bình văn học Trần Thanh Mại, cũng không phải là người Công Giáo, đã viết về chuyện này trong tác phẩm Hàn Mặc Tử:
Chính trong cơn bệnh hoạn của chàng, mỗi lần chàng chết đi sống lại, là chàng đều cảm thấy bà Thánh Nữ Đồng Trinh Maria đến cứu chữa chàng. Cho nên hơn hết cả muôn vì thần thánh, Thánh Mẫu Maria là đấng đáng cho chàng ca tụng. Việc ấy chàng đã làm trong một bài thơ tuyệt diệu, mà tôi muốn làm sao cho thấu đến tòa Khâm Mạng toàn cõi Đông Dương, đến cả Tòa Thánh La Mã nơi có Đức Giáo Hoàng. Những bài thơ của Hàn Mạc Tử về loại đạo hạnh này có thể đặt chàng ngang hàng với thi hào Pháp Paul Claudel .
Bệnh tình của Hàn Mặc Tử mỗi ngày một thêm nghiêm trọng. Và đúng là hoạ vô đơn chí. Trong mấy năm ấy, đau khổ, tai họa, chết chóc, bệnh tật cứ liên tiếp đổ ập xuống gia đình đáng thương này. Từ ngày ông thân sinh chết, cả gia đình hoàn toàn trông nhờ vào ông anh cả Nguyễn Bá Nhân, làm nghề thầu khoán. Năm 1936 là năm Hàn Mặc Tử lâm bệnh, thì cũng năm đó, ông Nhân chết vì tai nạn xe cộ. Gánh nặng gia đình trút hết lên vai bà mẹ già yếu, với số lương hưu bổng 21 đồng mỗi tháng.
Trước tình thế cùng quẫn đó, Hàn Mặc Tử đã năm lần bảy lượt quyết định đi vào Bố Thí Viện Quy Hòa, nhưng mẹ và các chị em không cho. Đang lúc mong mỏi có ai giúp đỡ thì Hàn Mặc Tử được sự giúp đỡ của một người bạn ở Nha Trang, đó là ông Quách Tấn. Ông gửi một vị lương y đến tận Gò Bồi để chữa trị. Nhờ vị lương y, bệnh tình của Hàn Mặc Tử thuyên giảm một cách rõ rệt. Chàng mừng quá, nhiều lần oà lên khóc, ôm chầm lấy ông thầy thuốc mỗi khi đến bắt mạch cho chàng.
Đang lúc phấn khởi như vậy, thì vấn đề tài chánh gia đình lại trở nên quẫn bách hơn bao giờ hết. Trong một bức thư gửi cho bạn thân là Trần Thanh Địch, chàng than thở:
Địch ơi, cuộc đời Trí rung rinh lắm rồi, hiện nay Trí khổ lắm, không có tiền uống thuốc Địch ạ ! Bệnh Trí mỗi ngày một khá nhiều lắm, thế mà không biết làm sao có tiền để mua thuốc. Lâu nay, Trí không mấy khi làm phiền gia đình về sự thuốc men nữa cả. Không bao giờ Trí nói cho ai biết. Người thầy thuốc có lòng thương Trí, cho Trí uống chịu thuốc, nhưng bây gi họ cũng không thể cho nữa, vì họ cũng nghèo khổ qúa rồi.
Chàng đinh ninh nếu có đủ thuốc men, căn bệnh sẽ lành hẳn. Niềm tin đó, làm cả gia đình tràn trề hy vọng. Riêng chàng, chàng mừng rỡ tung tin đi khắp nơi cho bạn bè biết: là một ngày gần đây, mình sẽ khỏi bệnh, sẽ trở lại sinh hoạt văn nghệ với anh em như thường lệ.
Nhưng có biết đâu, số phận hẩm hiu đã an định. Cơn bệnh sau mấy tháng giảm bớt, bỗng nhiên bộc phát trở lại một cách dữ dội. Vị lương y đành thúc thủ, ông âm thầm ra đi, mà lòng ngậm ngùi cho thân phận nghiệt ngã của một con người tài hoa. Lúc ấy, Quách Tấn cũng không làm gì hơn được, mỗi tháng dành dụm biếu bạn 10 đồng để uống thuốc.
Tuy vậy, mẹ Hàn Mặc Tử vẫn không tuyệt vọng, còn nước, còn tát. Trong nhà có gì, bà đem bán hết để đưa con đi Thôn Tấn vì nghe ở đó có bà lang chữa lành người cùi. Về Thôn Tấn, bệnh trạng của Tử lại trở nên trầm trọng hơn, trong lúc tài chánh gia đình tới hồi hoàn toàn kiệt quệ. Cuối cùng, vào giữa năm 1940, Hàn Mặc Tử nghe lời anh rể là Bửu Dõng, đến bệnh viện Quy Nhơn xin khám bệnh. Bác sĩ cho biết Hàn Mặc Tử đã bị phong cùi và các bộ phận trong cơ thể, đã hầu như hoàn toàn bị hủy hoại. Có lẽ, đây là hậu quả tất nhiên của việc dùng quá nhiều độc chất trong thuốc Nam để trị bệnh. Còn dung dạng bên ngoài, chỉ có đôi bàn tay là bị co quắp, mặt bị nám một vệt lớn bên má trái, còn tai, mũi của Hàn Mặc Tử chỉ ửng đỏ mà thôi.
Sau khi nghe lời bác sĩ, Hàn Mặc Tử yên trí là chàng không còn sống bao lâu nữa, nên một lần, với vẻ mặt đầy xúc động, chàng ôm lấy mẹ, nức nở nói với mẹ:
Mẹ ơi, con sắp chết nay mai mẹ ạ, mẹ thương con không, nhưng con không sợ chết mẹ ạ. Con nghĩ rằng con phải bỏ mẹ, phải vĩnh viễn xa mẹ nên con đau khổ quá mẹ ôi.
Thế rồi, chàng gác hết mọi chuyện văn chương, chữ nghĩa, suốt ngày, đọc kinh cầu nguyện, hướng tâm hồn về với Chúa và mẹ Maria. Viết thư cho bạn bè, Hàn Mặc Tử thường nói:
Đó là ngưỡng cửa phải bước qua để đến nơi có Chúa, có Mẹ Maria chờ đón tôi ở đó.
Đang lúc chuẩn bị tâm hồn như vậy, thì bọn lý hào ở Thôn Tấn tố cáo với nhà cầm quyền, nên ngày 20 tháng 9 năm 1940, trong một buổi sáng tinh sương, Hàn Mặc Tử khóc xướt mướt, từ giã mẹ và anh em, bước lên xe để sở Vệ Sinh áp tải về trại cùi Quy Hoà. Trong khi xe mở máy, Hàn Mặc Tử vén màn lên nhìn lại lần cuối cùng những người chị hiền lành, những đứa cháu ngây dại, và nhất là bà mẹ già lọm khọm suốt đời hy sinh cho con. Tất cả đang đứng ôm mặt khóc nức nở.
II . ÐỜI SỐNG HÀN MẶC TỬ TRONG TRẠI CÙI QUY HOÀ
Buổi sáng mùa thu ngày 20-9-1940 chiếc xe của sở Vệ Sinh thành phố Qui Nhơn đưa Hàn Mặc Tử từ Thôn Tấn đến trại cùi Quy Hòa, giữa tiếng khóc nức nở của các anh chị em, các cháu, và người mẹ già suốt đời hy sinh cho con.
Trại cùi Quy Hoà nằm cách thành phố Quy Nhơn khoảng 7 cây số, chiếm một khu đất khá rộng lớn. Trại do linh mục Paul André Maheu thuộc Hội Thừa Sai Paris và bác sĩ Le Moine, trưởng ngành y tế Quy Nhơn sáng lập năm 1929. Từ thời Pháp thuộc đến nay, không một chính quyền nào tự đứng ra chịu trách nhiệm điều hành trại cùi, mà chỉ yểm trợ phần nào tài chánh, rồi trao hết trách nhiệm điều hành cho các nữ tu dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ. Dòng này đến Việt Nam vào năm 1932 và chuyên lo việc tông đồ cho các người ngoại giáo. Việc truyền giáo của các dì dựa trên nền tảng hy sinh và cầu nguyện. Đến đâu, các dì cũng chỉ rao giảng tin mừng, và thực thi sứ điệp bác ái của Chúa Kitô. Do vậy, các dì đã vui lòng nhận trách nhiệm điều hành trại cùi Qui Hòa, để đem an ủi, yêu thương đến cho những bệnh nhân bị người đời ruồng rẫy. Linh Mục Phan Phát Huồn tả về trại cùi lúc Hàn Mặc Tử sống ở đó:
Nhà thương Qui Hòa có đến 600 bệnh nhân. Họ sống trong một khung cảnh tuyệt vời, một bên là biển rộng bao la, một bên là núi xanh rừng rậm. Những người phung hủi nhờ sự săn sóc chu đáo và tận tụy của các dì phước, mà bệnh nhân gọi là các bà mẹ, có cảm tưởng như sống trong đại gia đình. Và nhờ thế, họ quên đi một phần nào cảnh đau đớn của bệnh tình. Trại có nhà thờ, trường học, nhà giải trí, phòng họp và chia ra làm nhiều khu: khu dành cho phái nam độc thân, phái nữ độc thân, và khu dành cho những người có gia đình. Mỗi gia đình bệnh nhân đều có một căn nhà nhỏ, có màu sắc và lối kiến trúc riêng. Và khi gia đình nào có con, các dì phước tách các em đó ra, nuôi và giáo dục ở một khu riêng, để tránh lây bệnh cho các em.
Những khách du lịch tới thăm Quy Hòa phải lấy làm ngạc nhiên khi nhận thấy ở tại Qui Hòa, các bệnh nhân cũng là những người thợ siêng năng. Họ là những người thợ giầy, thợ hớt tóc, thợ hồ, hoặc kiến trúc sư. Chính lúc bệnh nhân làm việc đẻ giúp kẻ khác, họ mới cảm thấy an ủi trong tâm hồn. Lúc các Mẹ mới đến trại, hầu hết những bệnh nhân là những người không Công Giáo. Nhưng về sau, vì thấy gương sáng của các Mẹ săn sóc, họ xin học đạo và dần dần đại đa số các bệnh nhân đã xin chịu phép rửa tội. Họ được một ơn an ủi vô giá là lúc từ trần, họ đã được biết và yêu Chúa, nguồn an ủi vô biên của lòng người.
Cuộc sống của Hàn Mặc Tử trong trại cùi Quy Hoà thế nào đã được anh Nguyễn Văn Xê là người Công Giáo, ở cùng trại, kể lại và được công bố trong tạp chí Sông Hương ở Huế: Anh Nguyễn Văn Xê, đã tận tình giúp đỡ Hàn Mặc Tử nên hai người đã trở thành đôi bạn tri kỷ. Anh Xê kể rằng:
Khi chiếc xe chạy vào khu dành cho nam giới, các bệnh nhân trong trại bàn tán, xôn xao. Còn Mẹ Juetta, người Pháp, nữ tu dòng thánh Phanxicô, đon đả chạy ra rước bệnh nhân. Bác tài xế mở cửa xe, nhưng bệnh nhân gắng gượng lắm mới đứng lên được. Thấy vậy, Mẹ Juetta vội vàng chạy tới.
-Con à – mau đưa tay mẹ đỡ xuống cho – kẻo ngã.
Mẹ nói rồi, liền xốc đỡ Hàn Mặc Tử. Theo bàn tay dìu dắt của Mẹ, Hàn Mặc Tử tới giường số 3. Mẹ dừng lại, mở tập hồ sơ xem tên tuổi rồi nói:
-Trí à ! đây là chỗ của con.
Anh Nguyễn Văn Xê cũng là bệnh nhân trong trại, ôm mớ hành lý của Hàn Mặc Tử bỏ lên đầu tủ, dọn giường cho chàng rồi nói:
-Anh Trí! anh lên giường nằm nghỉ cho khoẻ.
Trí gật đầu, rút đôi chân sưng đen ra khỏi đôi ba ta rách, bước lên giường. Mẹ Juetta thấy Trí yếu quá, đem đến một tách sữa nóng và múc từng muỗng cho Trí uống. Trí e ngại:
-Thưa Mẹ, xin Mẹ để con tự bưng uống được mà.
Mẹ lắc đầu.
-Không được con à, để Mẹ đút cho. Sữa nóng sẽ làm con phỏng tay đấy. Tay con đang yếu mà.
Rồi Mẹ sung sướng, mỉm cười, khi thấy Trí uống hết ly sữa nóng.
-Thôi con nằm nghỉ đi chút nữa ăn cơm con ạ.
Trí lễ phép thưa:
-Con cám ơn Mẹ.
Đến 11 giờ trưa, anh Xê đến bên giường Trí:
-Anh Trí à – ra dùng cơm trưa, đến giờ rồi đấy.
Anh khập khiễng lê từng bước tới bàn ăn. Mẹ Juetta thấy Trí ăn ít quá nên ép:
-Trí à ! con gắng ăn thêm chút nữa cho có sức. Con yếu quá.
Nhưng Trí vẫn một mực từ chối:
-Cám ơn Mẹ – con đã no lắm rồi.
Đối với Hàn Mặc Tử, sau khi đã tìm được nguồn an ủi nơi Chúa và Mẹ Maria thì cầu nguyện là món ăn thiêng liêng chính của anh. Với tâm hồn thi sĩ thì thơ là kinh và kinh là thơ.
Nhà thơ Quách Tấn là một nhân chứng về sự chuyển hướng trong tâm hồn của Hàn Mặc Tử. Trước ngày Tử bị đưa vào Qui Hoà, ông Quách Tấn vào bệnh viện thăm Tử và chàng đã tâm sự và trăn trối những lời sau:
Tôi có lời nguyện rằng vào Qui Hoà, nếu Chúa ban phước cho tôi lành mạnh, tôi sẽ đốt tập Thơ Điên. Nhưng nghĩ lại, thơ đã làm lỡ ra rồi, dù có đốt đi cũng không xóa được tội lỗi, nên tôi không còn giữ ý định đó nữa. Tuy vậy, cũng không nên để cho người đời thấy được những bí ẩn của lòng mình. Tôi sợ gia đình tôi không theo được ý muốn của tôi, nên tôi nhờ anh thâu hết các bản thảo của tôi đem vào Nha Trang cất dùm. Tôi vào Quy Hoà, nhờ ơn Chúa tôi mạnh được thì chẳng nói chi, bằng tôi chết đi, thì tôi giao cho anh toàn quyền sử dụng. Bài nào nên cho hành thế, bài nào không, anh đã biết rõ. Tôi nhắn anh ra cốt có bấy nhiêu thôi.
Chàng đã viết trong lời tựa của tập thơ Xuân Như Ý những dòng tâm tình hoàn toàn mang màu sắc đạo đức, chứng minh một sự hiệp thông huyền diệu, thẳm sâu với Thiên Chúa:
Lậy Chúa Trời tôi! Hãy ban cho tôi hằng hà sa số là ơn lành, ơn cả. Thơ tôi sẽ rất no, rất ớn, rất nư, trọng vọng như tài hoa, cao sang như nhân đức, chói chang vô vàn phước lộc…
Ôi! Trời hạo nhiên, đây không phải là công trình châu báu của người sao? Lòng vô lượng đây không phải do phép tắc màu nhiệm của Đấng Vô thỉ, Vô chung sao?..
Sinh Họat Hằng Ngày Của Hàn Mặc Tử Trong Trại Cùi Quy Hòa
Thấm thoát mà Hàn Mặc Tử đã vào Quy Hòa được 3 tuần, được sống trong bầu khí đầy tình thương của các dì phước, của các người bạn mới trong trại. Chàng có vẻ lên tinh thần. Trong một lá thư gửi cho bạn, Hàn Mặc Tử nói về sinh hoạt hằng ngày của chàng như sau:
Buổi mai ngủ dậy, Trí đọc kinh trước hết, kế dơ tay lên, dơ tay xuống tập thể thao, rồi súc miệng rửa mặt và lên giường ngồi đợi ăn. Ăn xong Trí lại đọc kinh rồi đi bách bộ trong nhà và ngâm thơ vang lên. Đến 10 giờ rưỡi trưa Trí lại đi nằm, và nửa giờ sau lại đọc kinh và ngâm thơ nữa. Buổi trưa ăn cơm xong, cũng tráng miệng bằng cách ngâm vài bài thơ rồi ngủ cho tới ba giờ chiều. Lại đọc kinh, lại ngâm thơ. Buổi tối sau khi ăn xong, cũng đi bách bộ, vừa ngâm thơ một cách sung suớng nhất đời. Cả ngày chỉ ngâm thơ và đọc kinh là nhiều hơn cả. Ngày nào cũng như ngày ấy không thấy buồn lắm và ngày nào cũng mong mỏi một cái gì, một hình ảnh, một bóng người đến viếng, một phong thư, một tờ nhật trình.
Ngoài thì giờ đọc kinh cầu nguyện, chàng dùng thì giờ rảnh rỗi trong trại để sáng tác hai tập thơ. Một là Thơ Cầu Nguyện, hai là Thơ Đời. Riêng tập Thơ Đời đã trải qua một giai thoại khá ngộ nghĩnh: Năm 1941, Ông Trần Thanh Maị vào trại cùi Quy Hoà tìm hiểu đời sống Hàn Mặc Tử. Ông gặp anh Nguyễn Văn Xê và xin anh cho mượn hai tập thơ này để làm tài liệu nghiên cứu. Anh Xê trả lời như sau:
-Thưa ông, tôi rất sẵn lòng đưa ngay cho ông mượn, nhưng tiếc là tập thơ Cầu Nguyện đã trao cho dượng rể tôi là nhà văn Bùi Tuân hồi cuối hè vừa rồi.
Ông Mại hỏi:
-Thế còn tập Thơ Đời của Trí thì đề tặng ai?
-Đó là anh Phạm Văn Trung, cũng là bệnh nhân ở đây và có mở một quán hàng nhỏ tạp hóa.
Ông Mại nhíu mày hỏi anh Xê:
-Anh có hiểu nguyên nhân nào Trí đã tặng anh Trung tập Thơ Đời không?
-Sở dĩ tập Thơ Ðời tăng anh Trung vì Trí hỏi tôi yêu đời hay yêu đạo thì tôi trả lời là tôi yêu đạo, nên Trí mới ghi tặng tôi tập thơ Cầu Nguyện, và dĩ nhiên tập Thơ Đời thì Trí đề tặng anh Trung.
-Ông chủ quán tên Trung có liên quan gì đến Trí, mà sao tôi không nghe các chị dòng nói đến?
-Anh Trung mở quán, nên từ ngày Trí vào trại cho đến ngày chết, anh Trung luôn luôn săn sóc Trí bằng cách cung cấp nước trà sớm, trưa, chiều, tối, thỉnh thoảng lại còn gửi ít bánh kẹo cho Trí ăn chơi.
Lúc này ông Mại gật đầu:
-À, à! Ân đền, oán trả. Tôi hiểu rồi.
Sau đó, anh Xê đưa ông Mại đến quán anh Trung để tìm tập Thơ Đời. Anh Trung đưa ra một tập giấy pelure trắng mỏng đã bị xé rách hơn phân nửa. Ông Mại nâng niu tập giấy, xem tới xem lui rồi hỏi:
-Các trang bị xé rách anh còn giữ được không?
-Dạ không dám giấu gì thầy, tôi thấy giấy tốt quá, nên vấn thuốc hút và dùng giấy gói tiêu tỏi cho khách hàng.
-Anh Trung, anh cố nhớ những tờ giấy như thế này còn ở đâu nữa không?
-Thưa thày, tôi nói thật, nếu có gì không nên không phải, xin thày tha lỗi cho.
-Anh cứ nói sự thật đi.
-Thú thật với thày là nhựt trình mắc quá, nên tôi thỉnh thoảng làm giấy vệ sinh.
Thế là một số thơ của Hàn Mặc Tử làm trong trại cùi đã hoàn toàn bị mất.
Theo nhà văn Võ Long Tê, trong bài báo Thi Hào Công Giáo Hàn Mặc Tử, in Canada, năm 1995, thì tập thơ Cầu Nguyện chính là tập thơ Xuân Như Ý.
Ngoài ra, Hàn Mặc Tử còn làm hai bài thơ bằng tiếng Pháp gọi là Poème En Prose, gửi cho nhà văn Hoàng Trọng Miên, chủ nhiệm tờ báo Văn Nghệ Người Mới ở Saigon, để ca ngợi tinh thần các dì phước trong trại cùi.
Trong trại Qui Hòa, Hàn Mặc Tử sống rất khiêm tốn, nhã nhặn và không bao giờ khoe khoang với người trong trại rằng mình là thi sĩ, là một ký giả. Với cảc các dì phước người Pháp, chàng cũng không bao giờ dùng tiếng Pháp để nói chuyện. Mãi về sau, khi chết rồi, các người trong trại mới biết đó là một nhà thơ lừng danh, một ký giả có khả năng viết và nói tiếng Pháp lưu loát. Ông Trần Thanh Mại viết về cung cách xử sự của chàng trong trại:
Xưa nay chàng vẫn là người hiền lành, nhã nhặn, đối với bất kỳ ai, cũng lễ độ, nên không mấy lúc mà chinh phục được lòng bao nhiêu người trong trại cùi, từ các dì phước, đến các người bệnh. Nhiều ngày chàng đi thăm và an ủi anh em, chị em đồng bệnh. Chàng vui vẻ, ăn nói đậm đà, ưa đùa bỡn với bạn mới, biết lựa lời để cho vừa ý mọi người. Nhiều khi trong túi có một đồng hay năm bảy hào của nhà gửi cho mà chàng thấy không cần dùng, thì chàng lại chia cho các người nghèo túng hơn. Có một dạo, gia đình trong Quy Nhơn gửi cho chàng bộ quần áo mới. Đến khi người nhà vào thăm, thấy chàng vẫn mặc quần đen cụt cũ kỹ, lấy làm lạ, gạn hỏi thì chàng cho biết đã cho một người ốm và nghèo trong trại.
Sống trong trại cùi Quy Hòa, tâm tư Hàn Mặc Tử lắng đọng xuống. Chàng hiểu rõ mẹ chàng đang đau khổ, nên viết thư về an ủi mẹ:
Kính lạy mẹ đặng bình an trong Rất Thánh Trái Tim Chúa. Con viết mấy hàng chữ này để lạy từ tạ mẹ. Lậy mẹ, xin mẹ cũng đừng đau buồn làm chi, nên coi con dã chết, và con không thể quên mẹ. Xin cho con được chết lành. Kính thăm anh chị Dõng, chị Ba, em Tín, Hiếu và chúc các cháu bình an. Con bất hiếu Trí.
Rồi nhờ sự chăm sóc chu đáo, tận tụy của Mẹ Juetta, bệnh của Hàn Mặc Tử thuyên giảm rõ rệt. Có lần, chàng vui vẻ bàn tới chuyện sang năm sẽ cùng các bạn trong trại đi rước kiệu Đức Mẹ La Vang ở Quảng Trị. Chàng thổ lộ tâm tình với anh bạn Nguyễn Văn Xê.
Tôi đến Quy Hòa này có bãi biển, có rừng dừa xanh, có núi non hùng vĩ, và cù lao xanh huyền ảo, đặc biệt là có tình người nồng ấm, nên tôi được hưởng cái an bình của nội tâm, cái thanh tao của người vừa tưởng như đã chết trong khi tôi ở Thôn Tấn đầy đau khổ, nghèo túng, cô đơn, không ai đến an ủi, săn sóc.
Cái tình người nồng ấm mà Hàn Mặc Tử nói ở trên, sở dĩ có được, là do tinh thần hy sinh của các dì phước. Ông Trần Thanh Mại, không phải là người Công Giáo, đã gặp các dì trong trại cùi, và viết về các dì như sau:
Họ là những người đàn bà hết sức hiếm hoi ở dưới trần gian này, đã bỏ cả gia đình, cả tổ quốc, với những gì văn minh, xa hoa cực điểm, đã bỏ cả tuổi thanh xuân, với sắc đẹp huy hoàng lộng lẫy, tự đày mình ở một nơi xa ngoài trăm nghìn dặm, tự giam mình trong cái địa ngục ghê gớm và rùng rợn hơn địa ngục của Cơ Đốc Giáo, chỉ để mong đỡ đần nguồn đau khổ vô hạn của loài người. Những cái nhìn xanh biếc, nụ cười tươi thắm trên mặt trái xoan, đúc theo khuôn mẫu của những vị nữ thần Hy Lạp, chỉ biết gieo vào lòng người một niềm tin bác ái, mộ đạo, và kéo bao nhiêu ý thức về đức thuần tuý cao siêu của Đức Chúa Trời.
Những Giây Phút Cuối Đời Của Hàn Mặc Tử
Cuộc đời Hàn Mặc Tử đang êm trôi trong trại, thì đến ngày 30 tháng 10 năm 1940, chàng bị bệnh kiết lỵ trầm trọng. Chàng kiệt sức quá không đi nhà thờ đọc kinh như mọi ngày được. Anh Xê đề nghị Mẹ Juetta đưa Hàn Mặc Tử vào phòng kẻ liệt cho tiện săn sóc, và ban đêm anh Xê được mẹ Juetta trao trách nhiệm trông coi kẻ liệt. Đến đêm ngày 8 tháng 11, Hàn Mặc Tử ngồi bật dậy, lấy từ trong áo ra 2 tập giấy đánh máy, rồi gọi anh Xê:
-Anh Xê à – anh đã có tình yêu chưa?
Câu hỏi bất ngờ quá, nhưng anh Xê cũng thành thật trả lời:
-Tôi là người Công Giáo, từ nhỏ tới giờ ở đây, tôi chỉ có một tình yêu duy nhất là yêu Thiên Chúa và Mẹ Maria thôi anh ạ.
Hàn Mặc Tử gật đầu, vừa nói, vừa lấy bút chì ghi dòng chữ sau đây:
-Tập thơ Cầu Nguyện để tặng anh Xê.
-Tập thơ Đời để tặng anh Phạm Văn Trung.
Đêm hôm ấy, bệnh kiết lỵ của Hàn Mạc Tử trở nên trầm trọng. Chàng nhờ anh Xê lấy quyển sách Dọn Mình Chết Lành đọc cho chàng nghe, và miệng chàng luôn luôn than thở:
Lậy Mẹ Hằng Cứu Giúp, Xin Thương Xót Con. Lậy Mẹ Hằng Cứu Giúp, Xin Cứu Linh Hồn Con Trong Giờ Sau Hết.
Sáng ngày 9 tháng 11, Mẹ Juetta vào thăm, Mẹ bưng chén thuốc cho Trí uống rồi nói:
Trí à ! Chiều nay, Mẹ sẽ cho xe đi đón cha tuyên úy vào đây để con xưng tội rước lễ. Cha sẽ xức dầu cho con. Con chuẩn bị tâm hồn đi.
Sáng ngày 10 tháng 11, cha tuyên uý cho Hàn Mặc Tử chịu Phép Xức Dầu và rước lễ. Suốt ngày ấy, bệnh trạng của chàng trở nên nguy kịch, nhưng tinh thần có vẻ tỉnh táo. Chàng gọi anh Xê lại trăn trối lời cuối:
-Anh Xê ơi – Khi tôi chết, anh trao lá thơ này cho mẹ tôi và xin báo tin cho Trần Thanh Mại ở Huế và Quách Tấn ở Nha Trang.
-Thế còn gia đình anh thì sao?
-Rồi anh Hành, bà con tôi sẽ vào nay mai, và dĩ nhiên mẹ và gia đình tôi sẽ biết.
Đêm ngày 10 tháng 11, Mẹ Juetta, sơ Julienne và anh Xê vào thăm Hàn Mặc Tử 3 lần. Và lần thứ 3, lúc khoảng 3 giờ sáng, sơ Julienne cho biết Hàn Mặc Tử đang hấp hối.
Sáng ngày 11 tháng 11 năm 1940, lúc 5 giờ 45 Phanxicô Nguyễn Trọng Trí, 28 tuổi, đã tắt hơi thở cuối cùng trong ân nghĩa Chúa. Anh em trong trại lo khâm liệm và đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn Phanxicô Nguyễn Trọng Trí. Thánh lễ an táng được cử hành tại nhà nguyện của trại.
Trong đám tang Hàn Mặc Tử, không một người thân, không một người bạn, chỉ có anh em trong trại cùi, các dì phước và cha Tuyên Úy. Họ không phải là những người thân quyến của Hàn Mặc Tử, nhưng là những anh em trong Chúa, vì bệnh tật, phải sống cách ly với thế giới bên ngoài.
Mộ Hàn Mặc Tử nằm trong nghĩa địa trại cùi Quy Hòa. Mộ của những người phong hủi được chôn theo thứ tự ngày chết, và un lên từng nấm dài đều đặn như những luống khoai. Mộ bằng đất với cây Thánh Giá gỗ, không vòng hoa, không hương khói, đìu hiu quạnh quẽ dưới gốc cây phi lao. Chỗ an nghỉ cuối cùng của Hàn Mặc Tử đã phù hợp với lời thơ trong tác phẩm Duyên Kỳ Ngộ của chàng.
Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương, anh nằm chết như trăng.
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm.
Anh Nguyền Văn Xê gom góp tài sản của người quá cố để đốt đi theo luật của trại. Tài sản của người thi sĩ này không có một đồng xu dính túi, chỉ có: một bộ bà ba trắng cũ, một áo veston cũ, một đôi ba ta sắp hư, một quyển sách Pháp Văn, và trong túi áo mặc, trước khi chết, có một tờ giấy viết bằng Pháp Văn có tựa đề : La Pureté De L’ âme- nghĩa là Sự Thanh Khiết Của Tâm Hồn. Bài này được viết nửa tháng trước khi chết, có nội dung ca tụng tinh thần hy sinh bác ái của những nữ tu dòng Phanxicô. Sau đây là bản dịch bài Sự Thanh Khiết Của Tâm Hồn :
Hỡi các Thiên Thần trên trời, Thiên Thần của Chúa, Thiên Thần của Bình An và Hoan Lạc, hãy mang cho tôi một tràng hoa .
Tôi muốn tắm mình trong biển hào quang và tình thương cao cả.
Bởi vì, ở chốn hạ giới này, những phép linh dị của Chúa khiến mọi người phải yên lặng để say sưa chiêm ngưỡng công nghiệp huyền diệu của đấng Tối Cao .
Hỡi các Thiên Thần trên trời, Thiên Thần của Chúa, Thiên thần của bình an và hoan lạc hãy tung hô các Mẹ và các Chị dòng thánh Phan Xi Cô đã xuống giữa loài người mà an ủi chúng tôi, những kẻ trầm luân yếu đuối, bệnh tật, phung hủi.
Tôi muốn cao ngâm những lời thơ trong suốt ngọt ngào, khi Mẹ và các chị dòng cất tiếng hát: Hosana, Hosana.
Tôi muốn trọn đời ngưỡng mộ vẻ trắng trong tinh tuyền, nguồn tươi vui, ánh sáng. Vì tất cả đó là hình tượng của những Tâm Hồn Thanh Khiết.
Hỡi các Thiên Thần, Thiên thần của Chúa, Thiên Thần của bình an và hoan lạc, hãy tung hoa hồng, hoa sen, tiếng hát du dương, hơi nhạc đẫm hương và tưới tràn trề đức hạnh, can đảm cùng hạnh phúc xuống cho những người tôi tớ Chúa. Phanxicô Trí.
Sau khi Hàn Mặc Tử chết được ba ngày, thì gia đình chàng biết tin và ngay hôm sau, mẹ và người chị tức tốc vào Quy Hòa. Anh Xê hướng dẫn gia đình đi thăm mộ. Anh Xê đã không cầm được nước mắt khi thấy mẹ khóc một đứa con yêu, chị khóc một đứa em xấu số. Mẹ chàng khóc thật nhiều, rồi ôm lấy anh Xê nói lời uất nghẹn:
Xê ơi, bà đã già trước tuổi vì đi bà đã mấy lần tang tóc, đã rơi không biết bao nhiêu là nước mắt rồi.
Và cũng vào một ngày cuối hè năm 1941, anh Xê hướng dẫn một cô gái đến nghĩa địa thăm mộ Hàn Mặc Tử. Trước nấm mồ cô khóc xướt mướt thật lâu. Anh Xê rất ngạc nhiên, về sau, mới biết thiếu nữ đó là Mai Đình, người đã hết lòng yêu Hàn Mặc Tử lúc còn bệnh hoạn, nhưng chàng không đáp lại tình yêu đó. Đối với bàn bè và những người biết Mai Đình hồi đó, đều có một ý nghĩ không tốt về Mai Đình. Tuy thế, khi Hàn Mặc Tử chết rồi, bạn bè không ai ngó ngàng, không ai đọc cho chàng một câu kinh trước mộ, chỉ có nàng, nàng vẫn một lòng chung thủy, vẫn thỉnh thoảng trở lại thăm mộ người tình xấu số.
Năm 1941 Nhà văn Trần Thanh Mại vào Quy Hòa, tìm hiểu đời sống Hàn Mặc Tử. Mẹ Bề Trên Marie De Saint Venant, phó Giám Đốc bệnh Viện Quy Hoà, đã chỉ mộ chàng và nói:
Francois (tức Hàn Mặc Tử) người rất nhỏ nhắn, rất lịch thiệp và là một người Công Giáo rất tốt lành. Tôi tin chắc Francois đã về Thiên Đàng với Chúa.Và bây giờ anh nằm đây, yên nghỉ để đợi ngày Phục Sinh.
Năm 1959 gia đình Hàn Mặc Tử và thi sĩ Quách Tấn lo việc cải táng, đưa hài cốt từ Quy Hòa ra Gành Ráng. Mộ phần nằm lưng chừng núi Gành Ráng. Phía trong là núi, phía trước là biển, và xa xa là thành phố Quy Nhơn nằm trải dài trên bờ cát vàng óng ánh.
Tuy mộ nằm trên núi, trên rừng, nhưng việc cải táng cũng đã gặp trở ngại bất ngờ. Lúc hai ông Quách Tấn và Nguyễn Bá Tín, em ruột Hàn Mặc Tử, đem hài cốt ra núi Gành Ráng, thì ông thôn trưởng, cùng viên cảnh sát xã kéo năm người dân vệ đến. Viên cảnh sát hùng hổ nói:
-Chỗ này là đất cấm, sao các ông dám đem mồ mả lên mà chôn?
Ông Tín đáp:
-Chúng tôi đã được ông tỉnh trưởng cho phép rồi.
-Dù đã được phép đi nữa cũng phải đợi làng làm lễ khai sơn đã, rồi muốn làm gì thì làm. Chớ làm ẩu thế này sẽ động làng động xóm, rủi sanh tai họa thì ai chịu trách nhiệm cùng nhân dân. Huống nữa, làng chúng tôi chưa được giấy tỉnh sức. Vì vậy chúng tôi phải triệt quan tài tại đây, làm biên bản phúc trình tỉnh.
Ông Tín dằn tiếng nói:
-Các anh nhất định không cho chôn phải không?
-Nhất định.
Quách Tấn ngoảnh lại nói cùng ông Nguyễn Bá Tín:
-Thôi các ông không cho chôn thì chúng ta cứ về. Gởi quan tài lại đó cho các ông. Khi nào được lệnh tỉnh, các ông cho chôn, chúng mình sẽ đến chôn.
Hiểu được thâm ý của ông Quách Tấn, ông Tín và gia đình tán thành. Nhưng viên cảnh sát phản đối ngay:
-Các ông muốn bỏ vạ cho ai đó?
Quách Tấn đáp:
-Các ông không cho chôn, chúng tôi phải để lại chứ biết sao bây giờ ?
Ông thôn trưởng vẻ e ngại hiện hẳn ra mặt, đến nói nhỏ cùng Quách Tấn:
-Nếu để quan tài giữa trời thế này thì thất đức quá. Phải chi có người của tỉnh đến chứng nhận rằng qúy ông đã được phép rồi, để sau chúng tôi không trở ngại gì cả.
Thế là chúng tôi đưa ông cảnh sát đi gặp ông tỉnh trưởng. Ông tỉnh trưởng đi vắng, nên ông cảnh sát đổi ý bảo rằng:
-Chẳng lẽ quý ông lại nói dối với chúng tôi là vai con em rằng ông tỉnh trưởng đã cho phép sao? Thôi, xin các ông trở về lo việc chôn cất kẻo tối.
Thế là muôn sự tốt lành.Ngày nay có ai đến thăm mộ người thi sĩ tài hoa này, xin nhớ 2 câu thơ trong tác phẩm Xuân Như Ý của chàng:
Hãy cầu nguyện bằng trăm kinh mưa gió.
Hãy dâng cho một tràng chuỗi trăng sao.
Năm 1991, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh tức ca sĩ Nhật Trường, tác giả bài hát Hàn Mặc Tử, đã cùng một số anh chị em nghệ sĩ, bảo trợ kinh phí để ban giám đốc trại cùi Quy Hoà xây đài tưởng niệm Hàn Mặc Tử. Và nơi trút hơi thở cuối cùng, đã được biến thành Phòng Lưu Niệm, trong đó trưng bày một cái giường, tượng bán thân, những tác phẩm và các bài báo viết về Hàn Mặc Tử. Riêng mộ Hàn Mặc Tử tại Gành Ráng, thì nay đã biến thành trung tâm du lịch. Thơ văn và ảnh Hàn Mặc Tử được bày bán rất nhiều và đặc biệt có thùng tiền công đức bên cạnh mộ. Ngoài ra còn một căn nhà nhỏ có bàn thờ Hàn Mặc Tử, với hương đèn nghi ngút quanh năm.
Nay thì Hàn Mặc Tử đã mồ cao mả đẹp và người ta thường chỉ nhớ đến chàng qua những vần thơ trác tuyệt và cuộc tình dang dở với Mộng Cầm. Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối đời, Hàn Mặc Tử còn là một chiến sĩ Phúc Âm trong mặt trận văn học và nghệ thuật. Đó là một khía cạnh rất quan trọng trong đời sống Hàn Mặc Tử mà chúng tôi sẽ trình bày trong phần III: Những Nguồn Thi Cảm Của Hàn Mặc Tử.
III . NHỮNG NGUỒN THI CẢM CỦA HÀN MẶC TỬ
Thi sĩ Hàn Mặc Tử qua đời lúc ông 28 tuổi. Tuy cuộc đời ngắn ngủi, nhưng đã để lại cho hậu thế một sự nghiệp văn chương khá phong phú gồm:
-Năm tập thơ là: Gái Quê, Đau Thương, Xuân Như Ý, Thượng Thanh Khí, và Cẩm Châu Duyên.
-Hai kịch thơ là: Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội.
-Mười bài văn xuôi.
-Ngoài ra còn một số lớn thi ca được đăng trên các tạp chí ở Nam, Trung, Bắc. Tựu trung, thi ca Hàn Mặc Tử khởi đi từ bốn nguồn thi cảm: Lòng yêu nước, Tình cảm yêu đương, Cuộc đời đau khổ , Và ơn sủng siêu nhiên.
1. Nguồn thi cảm thứ nhất: Lòng Yêu Nước: Trong những năm của thập niên 30, xã hội Việt Nam dấy lên một cao trào chống thực dân Pháp. Hàn Mặc Tử lúc đó còn rất trẻ, đang là học sinh trung học, cũng sáng tác thi ca, mô tả nỗi thống khổ, uất hận của dân tộc. Tiêu biu là các bài: Thức Khuya, Chùa Hoang, Gái — Chùa. Các bài này đã được nhà cách mạng Phan Bội Châu nhiệt tình khen ngợi, đã họa lại, và cho đăng báo để giới yêu thơ thưởng thức. Ngoài ra Hàn Mặc Tử còn đích thân ra Huế gặp cụ Phan. Do đó, Sở Mật Thám Pháp đã gạch tên Hàn Mặc Tử khỏi danh sách học sinh được du học tại Pháp. Dưới đây là 4 câu thơ trong bài Đêm Không Ngủ:
Non sông bốn mặt ngủ mơ màng,
Thức chỉ mình ta dạ chẳng an.
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối,
Gió thu lọt cửa cọ màn chăn.
2. Nguồn thi cảm thứ hai: Tình Cảm Yêu Đương: Khi rời mái trường trung Học Pellerin Huế, Hàn Mặc Tử tròn 18 tuổi, và như bao nhiêu người trai trẻ khác, tâm hồn của người mới lớn, đều có cái xôn xao, rạo rực. Người tình đầu tiên của chàng là Hoàng Cúc, và mối tình giữa chàng mười tám, đôi mươi với cô nàng mười lăm, mười bảy, tất nhiên là cao đẹp, mộng mơ. Để tỏ tấc lòng cùng người yêu, chàng đã ghi tên nàng vào các bài thơ như : Vịnh Hoa Cúc, Trồng Hoa Cúc, Hồn Cúc.
Đọc các bài này, người ta thấy tình cảm của Hàn Mặc Tử lúc ấy, có cái giọng nhà nho, còn thấm nhuần lễ giáo Khổng, Mạnh. Rồi từ tình yêu vụng trộm, chàng muốn đi đến hôn nhân chính thức. Tuy nhiên, hôn sự lại bất thành vì ông thân sinh Hoàng Cúc là chủ sự sở Đạc Điền, mà Tử đang làm dưới quyền, đã chê chàng là không xứng mặt với con gái ông. Hàn Mặc Tử giận lắm, xin nghỉ việc và vào Saigon làm báo. Trong khi đó, Hoàng Cúc lại ra Huế, nên hai người không gặp nhau nữa. Tuy nhiên, như nhà văn Thế Lữ nói:
Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm chưa dễ đã ai quên.
Nên năm 1936, khi in tập thơ đầu tay Gái Quê, chàng đã định đề tặng Hoàng Cúc, nhưng sau thấy bất tiện nên đành chôn kín nỗi lòng. Tập Gái Quê cũng như mối tình với Hoàng Cúc, có bầu không khí dịu dàng, chất phác của một tâm hồn chưa muốn thoát khỏi luỹ tre xanh. Bao nhiêu hình ảnh trong Gái Quê đều là những hình ảnh mộng mơ, êm ái. Tình cảm trong Gái Quê, cũng như mối tình với Hoàng Cúc, còn kín đáo, còn ngượng ngùng, hồn nhiên và ngây dại. Đến khi Hàn Mặc Tử đau bệnh nằm ở Quy Nhơn, thì Hoàng Cúc lại gửi tặng chàng tấm ảnh cô gái Huế, với lời mời ra chơi Thôn Vỹ Dạ. Để tạ lòng người tri kỷ, Hàn Mặc Tử sáng tác bài: Thôn Vỹ Dạ.
Sau mối tình bất thành với Hoàng Cúc, Hàn Mặc Tử gặp Mộng Cầm. Có thể nói, Mộng Cầm là nguồn thi hứng dạt dào nhất cho Hàn Mặc Tử. Vậy Mộng Cầm là ai? Chuyện tình của họ thế nào? Chuyện sau đây do chính Mộng Cầm kể với giáo sư Châu Hải Kỳ, được đăng trong tạp chí Văn số 171 ra ngày 1-6-1971 tại Saigon:
Năm ấy tôi 17 tuổi, đang học lớp nhất trường nam Phan Thiết. Tuy học lớp nhất nhưng tôi rất ham văn chương. Đêm đêm tôi thường đến học thêm Việt ngữ với cậu Bích Khê tôi. Cậu mở lớp dậy cho những ai muốn học thêm và có chỉ dẫn cách làm thơ. Những bài tôi làm ra toàn là thơ đường luật. Tôi đăng báo Công Luận trong Nam.
Một hôm đến trường, tôi tiếp được một bức thư. Đó là bức thư đầu tiên Hàn Mặc Tử gửi cho tôi. Trong thơ, Hàn Mặc Tử tỏ ý cốt tìm cho biết để giao thiệp, trau luyện văn thơ. Tôi có gặp trên báo tên Hàn Mặc Tử một đôi lần, nhưng không biết Hàn Mặc Tử là ai, và cũng không biết bằng cách nào, Hàn Mặc Tử lại biết địa chỉ của tôi. Một tháng sau tôi mới trả lời thơ. Từ đó chúng tôi có thư đi, thư lại cho nhau, nhưng cũng toàn nói chuyện thơ.
Rồi nhân nghe tin bà Dì tôi bị bắt, Hàn Mặc Tử gởi ra cho tôi một bài thơ tặng bà. Đó là bài thơ đầu tiên Hàn Mặc Tử gửi cho tôi. Chúng tôi giao thiệp như thế được mấy tháng thì tôi phải về Quảng Ngãi. Cuộc giao thiệp gián đoạn. Về Quảng Ngãi tôi mới biết, chính chị bạn tôi quen biết với Hàn Mặc Tử, đã giới thiệu tôi với Hàn và cho Hàn địa chỉ.
Ở Quảng Ngãi mấy tháng, tôi lại trở vào Phan Thiết, rồi ra Mũi Né học nghề cô đỡ với cậu tôi. Đọc báo Saigòn Mới, cậu tôi thấy Hàn Mặc Tử nhắn trong mục thư tín là : Chị Mộng Cầm ở đâu cho biết địa chỉ. Ông mới hỏi tôi Hàn Mặc Tử là ai mà cứ nhắn hỏi cháu hoài. Sao cháu không trả lời.
Tôi kể đầu đuôi câu chuyện quen biết với mục đích trau luyện văn chương cho cậu tôi nghe. Cậu tôi cho phép tôi viết thơ cho Hàn Mặc Tử. Thư từ mật thiết đi lại trong mấy tháng thì một chiều thứ Bảy nọ, Hàn Mặc Tử ra Phan Thiết. Anh mướn đò đi Mũi Né tìm đến bệnh xá. Tôi đang làm thuốc cho một bệnh nhân, thì ông phu nhà thuốc đưa tôi một tấm danh thiếp có in mấy chữ Hàn Mặc Tử – Trưởng Hội Nghiên Cứu. Tấm danh thiếp này tôi giữ mãi làm kỷ niệm. Tôi bảo ông phu ra thưa với khách là chờ tôi một chút. Khi ra thì thấy một thanh niên ăn mặc âu phục xoàng xĩnh, đang đứng ở của bệnh xá.
Sau khi chào hỏi, tôi mời vào nhà giới thiệu với cậu tôi. Cậu tôi để chúng tôi tiếp chuyện tự nhiên. Kể ra vào thời đại nam nữ phải cách biệt, mà được như vậy cũng là tự do lắm rồi.
Hàn Mặc Tử xin cậu tôi, sẵn có đò cho phép tôi đi Phan Thiết chơi, luôn tiện nhờ tôi giới thiệu để gặp Bích Khê là cậu tôi mà anh hằng ao ước tìm gặp. Cậu tôi bằng lòng. Và tối hôm đó, chúng tôi xuôi đò về Phan Thiết.
Gặp hôm có trăng, chúng tôi không ngồi trên mui thuyền để ngắm sông nước mà ngồi trong khoang để nói chuyện. Hàn Mặc Tử không đẹp nhưng nhỏ nhẹ, dễ thương. Hồi này anh mới 24 tuổi, song trông anh yu tướng. Tôi in trí thế nào anh cũng không thọ. Nhờ ngọn đèn sáng dưới đò, tôi đã ngờ ngay hôm đó là anh có bệnh phung. Hai trái tai anh hơi đỏ, má dầy dầy. Vì có học ở nhà thương nên tôi biết triệu chứng. Tuy vậy, tôi chưa dám chắc. Sau này nhờ anh bạn cùng làm với Tử cho biết, lúc đó tôi mới chắc chắn.
Về chuyện đi chơi lầu ông Hoàng với Hàn Mặc Tử, tôi có đi, có gặp mưa, có ngồi ở nhà nghĩa địa, nhưng không phải vì đó mà Hàn Mặc Tử bị bịnh phung, như anh Quách Tấn viết. Nếu Hàn Mặc Tử bị phung thì sao tôi lại không hề gì cả.
Đoán Hàn Mặc Tử có phung, tôi không nói ra, song vẫn một lòng kính trọng anh. Đến đò Phan Thiết, tôi đưa Hàn Mặc Tử gặp cậu Bích Khê. Đến chiều, anh ấy đáp tàu về lại Saigòn.
Sau ngày ấy, tôi ra dậy ở trường Hồng Đức. Lẽ đó mà Hàn Mặc Tử mỗi chiều thứ Bảy đều có mặt tại Phan Thiết, chiều Chủ Nhật lại đáp xe về Saigon. Một chiều thứ Bảy, đi chơi Lầu Ông Hoàng anh thổ lộ tâm tình với tôi. Tôi có trả lời anh là: Chắc rằng không thể đến chỗ làm bạn trăm năm được, tôi nói trước để anh đừng hy vọng. Anh hỏi lý do thì tôi viện lẽ tôn giáo khác nhau, nhưng thực ra vì biết Hàn Mặc Tử bị bệnh hiểm nghèo, không thể sống lâu được. Ý tôi muốn được một người chồng mạnh mẽ tráng kiện. Tuy vậy chúng tôi vẫn giao thiệp thân mật trong hai năm như thế.
Trong thời gian này có nhiều lần, Hàn Mặc Tử năn nỉ tôi dẫn về Quảng Ngãi thăm nhà, và trong nhiều bức thư anh đề cập đến vấn đề hôn nhân. Tôi vẫn trả lời, nhưng luôn luôn ngụy biện để từ chối. Thế rồi, một lần tôi trả lời anh ấy : Em nghĩ chúng ta sống như thế này thanh cao hơn, tôn giáo bất đồng, chữ hiếu bắt buộc em phải nghe theo lời thân mẫu em.
Sau đó, Mộng Cầm đi lấy chồng, để lại niềm đau day dứt trong tâm hồn Hàn Mặc Tử. Cuộc tình đổ vỡ, cùng với bệnh trạng phong cùi mới xuất hiện, đã là nguồn thi cảm quan trọng nhất để thi sĩ có được những lời thơ kêu than, ảo não. Nếu không có Mộng Cầm, nếu không có cuộc tình đổ vỡ vì bệnh cùi, thì thi ca Việt Nam chắc hẳn không có những áng thơ tình như bài Phan Thiết, có địa danh Lầu Ông Hoàng là nơi đôi trai gái đã để lại biết bao kỷ niệm, hoặc nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã không có cảm hứng để sáng tác bài ca bất hủ “Hàn Mặc Tử”.
Khi Mộng Cầm cất bước sang ngang, để lại trong lòng Hàn Mặc Tử mối hận nghìn thu, thì lại một thiếu nữ thứ ba xuất hiện trong đời Hàn Mặc Tử. Đó là nhà thơ Mai Thị Lệ Kiều, biệt hiệu Mai Đình. Cuối năm 1937 Mai Đình đi qua Quy Nhơn, ghé thăm Hàn Mặc Tử, nhưng chàng không tiếp. Theo các tác giả viết về Hàn Mặc Tử, thì Mai Đình là một cô gái học thức, nhưng rất lãng mạn và hơi xấu. Tuy thế, để đáp lại tấm lòng người phương xa, chàng tặng nàng tập thơ Gái Quê. Đọc xong, nàng cảm động, sáng tác bài thơ Biết Anh gửi Hàn Mặc Tử để đánh dấu mối tình giữa hai thi sĩ tiền chiến:
Hàn Mặc Tử cao hứng, cũng đáp lại bài thơ đượm tình âu yếm. Do vậy, nàng sung sướng vội vã đi thăm chàng. Tuy nhiên, đến nơi, nàng hết sức ngỡ ngàng khi thấy chàng nhất định không chịu tiếp. Nàng cho rằng: chẳng qua vì sợ nàng trông thấy hình hài ghê gớm, nên không tiếp nàng mà thôi. Tin tưởng như vậy, nên có lần, nàng tâm sự với thi sĩ Quách Tấn :
Tôi biết tình tôi không xứng với Hàn Mặc Tử, nhưng đã yêu thì cứ việc yêu chứ sợ gì? Phải không anh?
Với thái độ cương quyết đó, Mai Đình không chịu lùi bước, nàng đến thăm chàng lần nữa. Các bà chị khuyên chàng không nên xử tệ với ai có lòng chiếu cố đến mình, do đó Hàn Mặc Tử đã tiếp Mai Đình hai lần. Và khi từ biệt, thi sĩ đã tặng nàng bài thơ có nhiều câu thống thiết. Về sau, Mai Đình biết lòng Hàn Mặc Tử chỉ yêu, chỉ rung cảm, khi làm thơ tặng mình nên đã lặng lẽ ra đi. Tuy thế, nàng vẫn trung thành, đến khi Hàn Mặc Tử chết rồi, không ai ngó ngàng, thì chỉ mình nàng cứ thui thủi đến viếng thăm phần mộ và cầu nguyện cho người tình xấu số.
Cũng trong cuộc đời tình ái của Hàn Mặc Tử, đồng thời với Mai Đình, còn một người nữa tên là Lê Thị Ngọc Sương. Ngọc Sương người Thu Xà, tỉnh Quảng Ngãi, là chị ruột của thi sĩ Bích Khê. Khi Mộng Cầm phụ tình đi lấy chồng, và Mai Đình không thể thay thế Mộng Cầm được, thì thi sĩ Bích Khê nghĩ ra một kế để an ủi Hàn Mặc Tử đang bị khủng hoảng vì cô đơn: Năm 1938 Bích Khê ra thăm Hàn Mặc Tử, có tặng chàng tấm hình mà ông chụp chung với người chị tên là Ngọc Sương. Chàng giới thiệu Ngọc Sương với Hàn Mặc Tử và cho biết Ngọc Sương là cô gái học thức, dáng dấp dễ thương. Rồi, dù chưa gặp lần nào, chàng cũng đem lòng yêu trộm, nhớ thầm. Một ngày kia, ngắm bức hình của Ngọc Sương, chàng không cầm lòng được, thốt ra bài thơ có chữ Ngọc Sương.
Ta đề chữ NGỌC trên tàu lá,
SƯƠNG ở cung Thiềm nhỏ chẳng thôi
Tình ta khuấy mãi không thành khối,
Nuốt giận đòi phen cắn phải môi.
Bích Khê biết chuyện, nhưng cứ giả vờ như không biết. Còn Ngọc Sương không hề biết gì về bài thơ đó. Mãi một năm sau, Mai Đình đọc bài thơ đó cho Ngọc Sương nghe, Ngọc Sương mới biết Hàn Mặc Tử đã yêu mình. Tuy thế, Ngọc Sương vẫn không biết tại sao chàng biết tên mình. Gạn hỏi mãi, Bích Khê mới thú thật và người chị đã mắng yêu đứa em :
Đồ qủy sứ, hèn chi mất tấm hình trong album mà hỏi thì cứ cười cười.
Về sau Ngọc Sương yêu cầu anh em và các bạn đừng thêm dầu vào lửa. Thế là mối tình một chiều của Hàn Mặc Tử với Ngọc Sương chấm dứt, nhưng vẫn để lại cho hậu thế những áng thơ trác tuyệt.
Sau Ngọc Sương , Hàn Mặc Tử gặp được một nguồn tình cảm mới. Đó là Thương Thương mà chàng gọi là nguồn thơ bất tuyệt. Thương Thương là một nữ sinh, em ruột của Trần Tá Phùng, cháu gọi Trần Thanh Địch là chú. Các nhân vật này đều là những nhà văn, nhà báo. Họ đều là bạn thân với Hàn Mặc Tử.
Nhận thấy Mộng Cầm đi lấy chồng, để lại tâm hồn Tử một lỗ trống mà Mai Đình không thể trám lấp nổi, nên Trần Thanh Địch, vì thương Tử cô đơn, phải sống trong túp lều tranh nơi rừng vắng, đã mượn cái tên Thương Thương giới thiệu với Tử, và nói rằng: nàng là một tuyệt sắc giai nhân, rất trân quý thơ văn của Hàn Mặc Tử. Sau đó, Tử nhận được một vài lá thơ của Thương Thương, với lời lẽ đoan chính, lịch sự. Tuy thế, những lá thơ ấy vẫn đủ sức làm ấm cõi lòng cô đơn của Hàn Mặc Tử. Rồi chỉ nghe cái tên kiều diễm, chỉ cảm nhận được chút lòng thơm thảo, mà Tử đem lòng yêu Thương Thương. Lắm lúc Hàn Mặc Tử biết yêu như thế là vô duyên, nhưng càng tưởng tưởng đến hình ảnh của Thương Thương, chàng càng yêu Thương Thương tha thiết. Trong một bức thư gửi cho Thương Thương, chàng thú nhận rằng: Em ơi, nhờ những giây phút nhớ nhung em mà anh đã quên được cuộc đời đau khổ, bệnh hoạn.
Sầu lên cho tới ngàn khơi
Ai lau ráo lệ cho lời nói ra,
Chiềy nay tàn tạ hồn hoa
Nhớ THƯƠNG THƯƠNG quá xót xa tâm bào!
Những bài thơ Hàn Mặc Tử làm trong lúc này nhiều khi rất siêu thoát. Chỉ trong nửa năm chàng hoàn tất được ba tập thơ, nói lên tình cảm đối với Thương Thương. Một tập định lấy tựa đề là Thương Thương, sau thấy không tiện, đổi là Cẩm Châu Duyên. Hai tập kia là Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội. Riêng Quần Tiên Hội, còn một đoạn cuối chưa viết, nhưng vì có sự can thiệp của gia đình Thương Thương, nên Hàn Mặc Tử đã quăng bút và giải nghệ viết lách. Thế là nguồn thơ khởi hứng từ tình yêu đã hoàn toàn tắt lịm trong con người Hàn Mặc Tử từ lúc đó cho đến khi chàng qua đời tại Quy Hòa.
Cốt truyện của Duyên Kỳ Ngộ là một thi sĩ, tức Hàn Mặc Tử đi tìm nguồn thơ, lạc vào một nơi tiên cảnh. Suối cất tiếng chào, chim đưa lời đón, và những tiếng sáo tiêu thánh thót theo hầu. Đương khi say sưa cùng cảnh vật, thì một tiên nga trong trắng và ngây thơ xuất hiện. Đó là Thương Thương.
Hai bên gặp nhau tình thanh, ý thắm, trao đổi tâm tình dưới bầu trời gấm hoa, đầy nhạc, đầy hương, đầy tiếng chim, tiếng suối phụ họa. Bỗng nhiên, thi sĩ chợt nhớ đến hoàn cảnh thực tại của kẻ cùi hủi, thân hình xấu xa, liền từ biệt Tiên Nga, ra đi với tấm lòng khô héo, và tiếng tiêu não nùng quấn quít bên chân.
3. Nguồn thi cảm thứ thứ ba: Những Nỗi Đau Khổ Của Cuộc Đời: Hai biến cố quan trọng ảnh hưởng tới thi ca Hàn Mặc Tử là phung cùi và cuộc tình lở dở với Mộng Cầm. Hai biến cố ấy đã làm cho tâm hồn thi nhân thác loạn. Trong hoàn cảnh này, đối với người bình thường, không ai còn bụng dạ nào sáng tác thi ca, nhưng Hàn Mặc Tử thì khác, bệnh càng trầm trọng chừng nào, Mặch thơ càng mạnh chừng ấy. Và người ta không mấy ngạc nhiên, khi thấy thơ văn Hàn Mặc Tử đầy dẫy những danh từ, nói về bệnh cùi như: Tê dại, sượng sần, da diết, chết điếng, đỏ hườm.
Nhưng rồi dần dần chàng cũng quen được với sự đau khổ, và nhận thấy rằng, chính những lúc náo loạn tâm hồn, lại là khởi điểm cho một nguồn thơ mới. Cuối năm 1937, Hàn Mặc Tử gom góp 50 bài thơ làm trên giường bệnh và đặt tên là Đau Thương gồm ba tập: Hương Thơm, Mật Đắng, Máu Cuồng và Hồn Điên. Trong Đau Thương, chàng dành hơn một nửa nói về trăng, còn hầu hết nói về linh hồn. Điều đó cho ta thấy tâm hồn Hàn Mặc Tử lúc nào cũng ám ảnh sự tuyệt vọng và chết chóc.
Đến tập Mật Đắng, người ta gặp một linh hồn vô cùng khổ não do cuộc tình giang dở với Mộng Cầm. Trong văn học Việt Nam, chuyện thất tình không thiếu, và hậu quả của nó thường chỉ là thứ tình buồn thấm thía, dìu dịu. Nhưng trong thơ Hàn Mặc Tử, người ta thấy một nỗi đau thương mãnh liệt mà nhà phê bình văn học Hoài Thanh – Hoài Chân gọi là lời thơ dính máu.
Sang tập Máu Cuồng và Hồn Điên thì thơ văn Hàn Mặc Tử ra khỏi thế giới trần tục. Người đọc sẽ rùng mình, ngơ ngác tìm xem trong lòng mình có gì giống cảnh của Hàn Mặc Tử không? Ta sẽ không tìm thấy gì, và nếu lục lọi trong văn thơ cổ kim, ta cũng không thấy gì kinh dị hơn. Ta chỉ biết một điều là ta đang đứng trước một con người sượng sần vì bệnh cùi, điên cuồng vì lo sợ, tuyệt vọng vì cái chết sẽ đến nay mai. Đang lúc tư tưởng của chàng đi vào cõi siêu thực, thì một nguồn lực siêu nhiên khác đến với chàng. Đó là ân sủng siêu nhiên.
4. Nguồn thi cảm thư tư: Ơn Sủng Siêu Nhiên: Sau những năm tháng dài khắc khoải trên giường bệnh, sống cảnh cơ cực, Hàn Mặc Tử đã cố tìm nguồn an ủi nơi gia đình, bạn bè, thi ca và người tình. Nhưng tất cả chỉ giúp giảm bớt phần nào niềm đau day dứt. Cuối cùng, khoảng ba năm trước khi qua đời, Hàn Mặc Tử nhận ra rằng chỉ có ân sủng siêu nhiên của Chúa và Mẹ Maria, mới an ủi được chàng trong những giây phút khổ đau, tuyệt vọng.
Trong giai đoạn này, người ta thấy thái độ và thi văn của chàng không còn cái không khí hốt hoảng, điên loạn như những ngày mới mắc bệnh. Chàng dâng trọn vẹn sự đau khổ vào vòng tay thương yêu của Chúa và Mẹ Maria nên tâm hồn rất thanh thản. Nhà văn Hoàng Trọng Miên trong một bài báo tựa đề Giao Dịch Với Hàn Mặc Tử Qua Thư Từ đã viết về tâm trạng của chàng trong giai đoạn này như sau :
Thời kỳ này Tử đã quen thuộc với đau khổ của bệnh trạng nan y, và tìm thấy niềm an vui trong nguồn đạo, sớm chiều đọc kinh cầu nguyện Đức Mẹ và làm thơ. Những bài thơ trong tập Xuân Như Ý, Quần Tiên Hội và Duyên Kỳ Ngộ được sáng tác trong giai đoạn này.
Và nếu đọc các bài thơ được sáng tác sau này, người ta thấy tâm hồn Hàn Mặc Tử đã hoàn toàn chuyển hướng. Trong bài Đêm Xuân Cầu Nguyện, Hàn Mặc Tử đã van lơn Chúa thứ tha cho những câu thơ tội lỗi trước đây. Thi sĩ viết:
Tôi van lơn, thầm nguyện Chúa Giêsu
Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối
Xin thứ tha những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng.
Và nếu trước đây Hàn Mặc Tử có lần nói rằng: Thơ là âm điệu thiêng liêng tạo ra trong khi máu cuồng, rên vang dưới ngòi bút. Thì nay chàng đã khuyên thi sĩ Bích Khê rằng : Sáng tạo là điều cần nhất, tối yếu của thơ, mà muốn tìm nguồn cảm xúc mới lạ không chi cho bằng đọc các sách về tôn giáo cho nhiều. Như thế thơ văn mới trở nên trọng vọng, cao quý, có một ý nghĩa thần bí.
Rồi vào tháng 6 năm 1939 nghĩa là gần hai năm trước khi chết, trong một văn bản rất quan trọng gửi cho Hoàng Trọng Miên, lúc ấy đang là chủ Nhiệm của tờ Văn Nghệ Người Mới ở Saigon, Hàn Mặc Tử xác định rõ mối tương quan giữa thi ca và Thiên Chúa. Chàng cặn kẽ giải thích lập trường của mình như sau:
Trong đời thi sĩ, thi sĩ đã sống cô độc, những người con gái rất xinh đẹp cũng không làm cho thi sĩ vui được, vì ở người con trai cũng như người con gái, đều có một tâm hồn nhỏ nhoi, tầm thường, không hợp với tính tình thanh tao của thi sĩ. Vì thế thi sĩ cứ kêu rên thảm thiết là để tìm một người tri kỷ. Mà than ôi! không bao gi thi sĩ tìm được. Người tri kỷ của thi sĩ phải là một bậc cao quý, toàn tài, toàn năng, một đấng mà thi sĩ nhận lấy như là hết cả mọi sự . Đấng ấy là Đức Chúa Trời. Thi sĩ chỉ có thể trút hết hận tình với Đức Chúa Trời, kể lể hết niềm đau thương với người, dâng cho người những bài thơ sáng láng, anh hoa, thế mới là mãn nguyện.
Cho nên tất cả thi sĩ ở trong đời, phải quy tụ, phải khơi Mặch thơ ở Đức Chúa Trời. Thi sĩ không phải là một người thường. Thi sĩ phải biết đem tài năng ra ca ngợi Đấng Chí Tôn, và làm cho người đời thấy rõ vẻ đẹp của thơ, để đua nhau nhìn nhận và tận hưởng. Những thi sĩ nào không biết đem tài ứng dụng vào chỗ tốt đẹp, thì sẽ bị Đức Chúa Trời lấy tài lại một cách nhãn tiền.
Và khi so sánh với nhà văn Pháp Beaudelaire, Hàn Mặc Tử viết:
Beaudelaire nói: Thơ văn không thể dung hoà với khoa học hay luân lý và thơ văn không thể lấy chân lý làm chủ đích được. Thơ chỉ là thơ. Beaudelaire thuộc phái vô thần nên không tin có chân lý. Còn Trí, Trí phải lấy Đức Chúa Trời làm chân lý, làm tiêu chuẩn cho văn thơ. Văn thơ không phải bởi không mà có.
Mang niềm tin sắt đá vào Thượng Đế, Hàn Mặc Tử đã tiên phong đi tìm nguồn cảm hứng sáng tác trong nguồn Mặc khải Thánh Kinh Kitô Giáo. Anh viết:
Tôi dự định viết ra nhiều tập thơ về tôn giáo. Trong thi giới, ta chưa thấy ai nghĩ đến việc đem chuyện Sinh Nhật, Phục Sinh làm thi đề. Đó là những tài liệu còn gì thú vị bằng.
Chính vì niềm tin này mà nhà văn Võ Long Tê đã kết luận về thi sĩ Hàn Mặc Tử như sau: Nghiên cứu Hàn Mặc Tử dẫn đến một kết luận kỳ thú bất ng. Trong Hàn Mặc Tử không phải chỉ có một tác giả được thừa nhận là một thi hào, mà còn có một con người sống với đức tin Công Giáo nhiệt thành. Làm thơ đối với Hàn Mặc Tử là làm người, nghĩa là sống đạo.
Với lập trường vững tin nơi Chúa như vậy, Hàn Mặc Tử đã khẩn khoản xin Chúa ban ơn cho chàng sáng tác thi phẩm Xuân Như Ý. Trong bài tựa của tác phẩm này, thi sĩ viết những lời cầu nguyện như sau:
Lậy Chúa Trời tôi, hãy ban cho tôi hằng hà sa số là ơn lành, ơn cả. Thơ tôi sẽ rất no, rất ớn, rất nư, trọng vọng như tài hoa, cao sang như nhân đức, chói chan vô vàn phúc lộc. Ôi, trời hạo nhiên, đây không phải là công trình châu báu của Người sao? Lòng vô lượng đây không phải do phép tắc màu nhiệm của đấng vô thủy vô chung sao?
Cầu nguyện với Chúa rồi, Hàn Mặc Tử sáng tác thi phẩm Xuân Như Ý và Hoài Thanh – Hoài Chân đã nhận định về giá trị thi phẩm này như sau:
Mùa xuân Hàn Mặc Tử nói đây có khi ở đâu hồi trời đất mới dựng lên, có khi ra đời một lần với Chúa Giêsu, có khi hình như chỉ là mùa xuân đầu năm. Nhưng dầu sao cũng không phải là mùa xuân thường với những màu sắc, nhưng hình dáng ta vẫn quen biết. Đây là một mùa xuân trong tưởng tượng, một mùa xuân theo ý muốn của thi nhân, đầy dẫy những kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Với Hàn Mặc Tử, thơ có một sự quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế, mà cũng để nối người ta với Thượng Đế, để ban ơn phước cho cả và thiên hạ. Cho nên mỗi lần thi sĩ há miệng cho thơ trào ra là chín tầng mây náo động, muôn vì tinh tú xôn xao.
Hình như trong các thi phẩm xưa nay có tính cách tôn giáo không có gì giống như vậy. Hàn Mặc Tử dựng riêng một ngôi đền thờ để thờ Chúa. Nếu thiếu đức tin, người đọc sẽ chỉ là du khách không thể cùng quỳ lậy với thi nhân được. Nhưng dù lòng tôi có dửng dưng, trí tôi làm sao không ngớp vì cái vẻ huy hoàng, trang trọng, lung linh , huyền ảo của lâu đài kia. Có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như rưới vào hồn một nguồn sáng láng, rực rỡ. Rõ ràng Xuân Như Ý là tập thơ hay nhất của Hàn Mặc Tử. Thơ Hàn Mặc Tử ra đời điều ấy chứng tỏ rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một không khí có thể kết tinh lại thành thơ.
Đối với những người chưa có dịp tiếp xúc với kinh thánh Kitô Giáo, thì khó mà hiểu được thế nào là mùa Xuân của Hàn Mặc Tử, như Hoài Thanh Hoài Chân vừa thú nhận. Nhưng, với những ai có niềm tin nơi Chúa, thì sẽ thấy mùa xuân ở đây, là mùa xuân của Chúa, của Thiên Đàng.
Chúng tôi sưu tầm và trình bày bài viết này với mục đích tưởng niệm và tôn vinh một thi sĩ lớn trong văn học Việt Nam nhân dịp kỷ niệm ngày giỗ của Hàn Mặc Tử (11 tháng 11 năm 1940). Ngoài ra, chúng tôi cũng muốn vinh danh một chứng nhân Phúc Âm trong môi trường văn học và nghệ thuật, đã vượt thắng những khổ lụy của cuộc sống để tìm về với Đấng Tối Cao.
Nguyễn Long Thao
Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử
Bạn có biết thôn Vỹ Dạ ở Huế không? Quê cha của tôi đấy. Tôi chưa bao giờ “về thăm thôn Vỹ”, nên chẳng có ấn tượng gì về Vỹ Dạ cả. Nhưng qua một bài thơ chỉ dính có hai chữ “thôn Vỹ”, tôi biết quê tôi rất đẹp. Ðây bài… “Về thăm thôn Vỹ” (có nơi chép là “Về chơi thôn Vỹ,” nghe có vẻ “ít thơ”, nhưng có lẽ là đúng nguyên lời của tác giả) của Hàn Mặc Tử:
Sao anh không về thăm thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cao nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió mây đường mây
Giọt nước buồn hiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà!
Ô, lại áo trắng nữa! Trắng sao mà đến nỗi nhìn không ra? Nhìn không ra cái gì? Không ra em? Không ra màu da cũng trắng quá? Hay nhìn không ra đâu là màu áo trắng với màu sương khói? Chắc là bóng em áo trắng chìm trong màu sương khói bên kia bờ sông. Và dù vậy, vẫn nhìn ra em như thường. Nói chi mà lạ rứa! Nói là nhìn không ra, vậy sao biết người ta mặc áo trắng! Hay là đứng đầu ngõ ngóng cô nàng nữ sinh áo dài trắng đội nón bài thơ sáng đi qua, chiều đi lại? Cậu thi nhân này hình như rảnh rỗi ở không dữ há! Chờ ngóng người ta từ sáng đến chiều chẳng thấy mệt! Rõ ràng như vậy mà. Ðầu bài thì “nắng mới lên”, giữa bài thì đã “có chở trăng về kịp tối nay?” Vậy không phải là đứng trông từ sáng đến chiều tối sao? Ðứng bờ sông này ngóng bờ sông kia, mong người ta về thăm thôn Vỹ của mình. Mơ sao người đẹp một lúc nào đó sẽ đón thuyền sang bờ bên này để mình được chiêm ngưỡng một lần cho thỏa dạ… (vì chưa chắc thi nhân biết mặt người đẹp) mà lại nói một cách bóng bẩy tài tình đến nỗi chẳng ai trước mà cũng chẳng ai sau Hàn Mặc Tử có thể nói được hai câu diễn tả nỗi mong chờ tha thiết của chàng trai si tình một cách nên thơ như vầy:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mà cũng chẳng ai tả cái màu trắng đẹp huyền ảo như màu trắng của Hàn Mặc Tử:
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh…
Màu áo trắng chìm trong bóng sương mù buổi sớm. Hình như màu trắng và màu trăng là nỗi ám ảnh, hay là những dấu ấn trong cuộc đời, và trong thơ Hàn Mặc Tử. Mà cũng không riêng gì Hàn Mặc Tử. Các thi nhân khác cũng thế. Họ thích màu trắng và màu trăng.
Áo trắng của em nữ sinh. Áo trắng của em y tá và em bác sĩ. Màu trắng làm điên đảo bao nhà thơ như thế mà khi rời trường lớp, rời nhà thương là em vội thay xiêm đổi áo, chọn màu xanh, màu lục, màu đỏ, màu vàng liền lập tức. Em sợ màu trắng trơn quá sẽ làm nhàm chán những đôi mắt tình si chăng? Không đâu. Không tin thì cứ đọc lại bốn câu chót của Hàn Mặc Tử. Ðọc rồi thì vẫn cứ cần phải đọc lại:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà!
Nếu một ngày nào trong tủ áo không còn áo màu để ra đường, em đừng ngần ngại mặc áo màu trắng. Nếu không chàng trai nào thấy bắt mắt với màu trắng thì cũng chả sao cả. Sẽ có những văn thi nhân nhìn ngắm em và đưa em vào trang huyền sử của thi ca diễm tình.
Hãy đọc thêm một số bài thật hay của Hàn Mặc Tử:
Phan Thiết! Phan Thiết!
Nhớ khi xưa ta là chim phượng hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất…
Bay từ Ðao Lị đến trời Ðâu Suất
Và lùa theo không biết mấy là hương…
Lúc đằng vân gặp ánh sáng chặn đường
Chạm tiếng nhạc, va nhằm thơ thiên cổ…
Ta lôi đình thấy trăng sao liền mổ:
Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ
Ở ngôi cao, ngước mắt ra ngoài bể
Phong lưu ghê, sang trọng chẳng vừa chi.
Ta mê man như tới chốn Phụng Trì
Ở mãi đấy không về thiên cung nữa.
Nhưng phép lạ! Có một vì tiên nữ
Hao hao như nường nguyệt cõi Ðào Nguyên
Ta đắm mê trong ánh sáng trần duyên
Và van lạy xin cô nường kết ngãi;
Mỉa mai thay cho phượng hoàng si dại
Là ta đây đương ở kiếp muôn chim…
Trở lại Trời tu luyện với muôn đêm
Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả
Ta trở nên như ngọc đàng kim mã
Rất hào hoa rất phong vận: Người Thơ…
Ta là trai khí huyết ước ao mơ
Người thục nữ sanh giữa thời vô thượng,
Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng
Ta lang thang tìm tới chốn Lầu trang
Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết.
Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết!
Mà tang thương còn lại mảnh sao rơi
Ta đến nơi. Nường ấy vắng lâu rồi
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỉ
Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ!
Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng
Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng,
Thơ phép tắc bỗng kêu lên thống thiết
Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!
Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu,
Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư…
Ngủ với trăng
Ta không nhấp rượu
Mà lòng ta say…
Vì lòng nao nức muốn
Ghì lấy đám mây bay…
Té ra ta vốn làm thi sĩ
Khát khao trăng gió mà không hay!
Ta đi bắt nắng ngừng, nắng reo, nắng cháy
Trên sóng cành, — sóng áo cô gì má đỏ hây hây…
Ta rình nghe niềm ý bâng khuâng trong gió lảng
Với là hơi thở nồng nàn của tuổi thơ ngây
Gió nâng khúc hát lên cao vút
Vần thơ uốn éo lách từng mây
Ta hiểu ta rồi, trong một phút
Lời tình chới với giữa sương bay.
Tiếng vàng rơi xuống giếng,
Trăng vàng ôm bờ ao…
Gió vàng đang xao xuyến
Áo vàng hỡi chị chưa chồng đã mặc đi đêm!
Theo tôi đến suối xa miền,
Cổi thơ, cổi mộng, cổi niềm yêu đương…
Mây trôi lơ lửng trên dòng nước,
Ðôi tay vốc uống quên lạnh lùng
Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ,
Ðây mình lốm đốm những hào quang…
Tiêu sầu
Ô! Ðêm nay trời trong như gương
Không làn mây vương, không hơi sương
Tơ trăng buông rèm trên muôn cành
Tơ trăng vàng rung như âm thanh.
Từ đâu tiêu sầu reo vi vu
Buồn như làn mây hiền mùa thu
Êm như dòng tơ trên vai nường
Mong manh như là lời yêu đương.
Tiêu đưa tôi bay lên cung trăng
Tôi phiêu diêu cùng ngàn sao băng
A ha, lòng tôi trăng là trăng!
A ha, trăng tràn đầy châu thân!
Cung thiềm đây rồi hương ngây ngây
Ô, bằng trân châu hay quỳnh dao?
Và mớm cho tôi bao tình say
Mà tôi mút bao dòng ngọt ngào.
Nghê thường lên khơi nường Hằng ra
Hương trầm bâng khuâng quyện mình hoa
Nhịp nhàng nường đi theo nhịp đàn
Âm thanh lên cao nhạc lừng ran.
Tôi lại gần bên: Ồ lạ thường!
Nường Trăng, ô, chính là Thương Thương!
Người tôi rung động như âm thanh
Môi không ngừng dưới đôi tay xinh.
Hoảng hốt, tôi ôm chầm lấy nường
Than ôi, nường đã biến ra sương
Tôi ôm chầm phải tiếng tiêu sầu
Vi vu reo buồn trong đêm thâu.
Trăng vàng trăng ngọc
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng Trăng, Trăng!
Ai mua Trăng tôi bán trăng cho
Không bán đoàn viên, ước hẹn hò
Bao giờ đậu trạng vinh qui đã
Anh lại đây tôi thối chữ thơ.
Không, Không, Không! Tôi chẳng bán hòn Trăng
Tôi giả đò chơi anh tưởng rằng
Tôi nói thiệt, là anh dại quá!
Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang?
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng Trăng, Trăng!
Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi
Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi
Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi,
Trăng mới là trăng của Rạng Ngời
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng Trăng, Trăng!
Bẽn lẽn
Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Ðợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi!
Trong khóm vi lau rào rạt mãi
Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao, lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em.
Say trăng
Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng
Cho bay lên hí hửng với ngàn khơi
Ở trên kia, có một người
Ngồi bến sông Ngân giặt lụa chơi
Nước hóa thành trăng, trăng ra nước
Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm!
Người trăng ăn vận toàn trăng cả
Gò má riêng thôi lại đỏ hườm.
Ta hẵng đưa tay choàng trăng đã
Mơ trăng ta lượm tơ trăng rơi
Trăng vướng lên cành – lên mái tóc cô ơi
Hãy đứng yên tôi gỡ cho rồi cô đi!
Thong thả cô đi…
Trăng tan ra bọt lấy gì tôi thương?
Tối nay trăng ở khắp phương
Thảy đều nao nức khóc nường vu qui
Say! Say lảo đảo cả trời thơ
Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra.
Ghen
Ta ném mình đi theo gió trắng
Lòng ta tản khắp bốn phương trời
Cửu trùng là chốn xa xôi lạ
Chim én làm sao bay đến nơi?
Chiếc tàu chở cả một đêm trăng
Muôn ánh sao ngời chói thẳng băng
Muôn sợi hương trầm say bối rối
Muôn vàn thần thánh sống cao sang.
Giây phút, ôi chao! Nguồn cực lạc
Tình tôi ghen hết thú vô biên
Ai cho châu báu, cho thinh sắc
Miệng lưỡi khô khan hết cả thèm.
Lòng anh
Một lời hứa, anh chỉ mong có thế
Ðể cho lòng tin tưởng ở ngày mai
Một lời hứa ban cho người góc bể
Là một nguồn sống mãi, tiếc chi ai?
Anh chỉ thẹn không còn son trẻ nữa
Ðể cho tình âu yếm mặn nồng hơn
Và chỉ sợ đời em còn măng sữa
Một ngày kia trĩu nặng nuốt căm hờn.
Nhưng tội nghiệp, trên trời đôi nhạn lạc
Cứ yêu nhau đừng tưởng đến ngày mai.
Dẫu có lúc em mơ vui thú khác
Anh cũng mừng đã được yêu em rồi.
Trút linh hồn
Máu đã khô rồi, thơ cũng khô
Tình ta chết yểu tự bao giờ!
Từ nay trong gió – trong mây gió
Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ.
Ta còn trìu mến biết bao người
Vẻ đẹp xa hoa của một trời
Ðầy lệ, đầy thương, đầy tuyệt vọng
Ôi! Giờ hấp hối sắp chia phôi!
Ta trút linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn nuối trong cây
– Còn em, sao chẳng hay gì cả?
Xin để tang anh đến vạn ngày!
Siêu thoát
Mới hay cõi siêu hình cao tột bực
Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao.
Xa lắm rồi, xa lắm, hãi dường bao!
Ai tới đó chẳng mê man thần trí?
Tòa châu báu kết bằng hương kì dị
Của tình yêu rung động lớp hào quang
Những cù lao trôi nổi xứ mênh mang
Sẽ qui tụ thâu về trong một mối,
Và tư tưởng không bao giờ chắp nối
Là vì sao? Vì sợ kém thiêng liêng.
Trí vô cùng lan nghĩ rộng vô biên
Cắt nghĩa hết những anh hoa huyền bí.
Trời bát ngát không cần phô triết lí,
Thơ láng lai chấp chóa những hàng châu.
Ta hiểu chi trong áng gió nhiệm mầu
Những hạt lệ của trích tiên đầy đọa?
A ha ha! Say sưa chê chán đã
Ta là ta hay không phải là ta?
Có gì đâu cả thể với cao xa
Như cội rễ của trăm nguồn đạo hạnh
Hớp rượu mạnh, máu càng hăng sức mạnh
Ôi điên rồ! Khoái lạc đến ngất ngư
Thương là thương lòng mình giận chưa nư
Hồn vội thoát ra khỏi bờ trí tuệ.
nguồn: vinhhao.net
Hàn Mặc Tử và những câu thơ đầy ma lực
Hàn Mặc Tử và những câu thơ đầy ma lực
Những năm 1938 – 1939, thi sĩ đau đớn dữ dội bởi bệnh tật, nhưng trước mặt bạn bè, chàng cố kìm nén. Chàng chỉ gào thét trong thơ: “Trời hỡi! bao giờ tôi chết đi /Bao giờ tôi hết được yêu vì/ Bao giờ mặt nhật tan thành máu/ Và khối lòng tôi cứng tựa si”.
Lúc này, sau một thời gian chữa chạy bằng đông y, chẳng những căn bệnh phong cùi không thuyên giảm chút nào mà ngược lại còn làm thân thể chàng ngày một tiều tụy đi vì những tác dụng phụ của thuốc. Mặt khác, thông tin về việc chàng bị mắc bệnh phong đã đến tai chính quyền địa phương. Do đó, chàng phải liên tục thay đổi chỗ ở để tránh sự truy đuổi gắt gao của Sở Vệ sinh công cộng thành phố Quy Nhơn. Cuối cùng, gia đình tìm thuê cho chàng được một nơi ở khá kín đáo trong khu lao động nghèo nằm bên cồn cát trắng ven biển. Đó là một túp lều tranh mà theo Hoài Thanh kể là rách nát đến độ phải lấy giấy báo và bao thư che những chỗ dột trên mái nhà.
Trong thời kỳ bệnh tật, Tử sáng tác được ba tập thơ là Thơ điên, Xuân như ý và Thượng thanh khí. Nhưng có điều đặc biệt là, những câu thơ của chàng cứ tiến dần đến chỗ rối rắm khó hiểu theo tiến triển bệnh tật. Nhiều câu thơ đọc lên nghe rất hay nhưng độc giả hầu như không ai hiểu tác giả muốn nói gì. Tuy nhiên, theo lời Quách Tấn thì, điều lạ lùng là dù rối rắm khó hiểu như thế nhưng thơ Tử được người đời chuyền tay nhau đọc thuộc lòng, đọc như đọc kinh, không hiểu gì cũng đọc thuộc làu làu. Như thể thơ của chàng lúc đó có ma lực. Hoài Thanh cũng xác nhận điều lạ lùng này: “Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mặc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mặc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mặc Tử đâu phải chuyện dễ. Đã khúc mắc mà lại nhiều: tất cả đến sáu, bảy tập. Họ thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng họ sẽ cao giọng, ngâm một mình. Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vị giáo chủ”.
Chúng ta biết rằng, lúc Hàn Mặc Tử còn sống, chàng chỉ mới xuất bản được mỗi một tập Gái quê vào năm 1936, khi chàng còn khỏe mạnh và có tiền. Còn phần lớn thơ chàng làm ra trong thời kỳ bệnh tật này thì đến với người yêu thơ qua cách người này cho người khác mượn sổ để chép tay. Thơ của Tử không chỉ làm thích thú những cô cậu học sinh trung học vốn mơ mộng mà còn lan tỏa ra nhiều giới khác. Và thật đáng ngạc nhiên, nó còn lay động đến cả giới tu hành. Có một nữ tu trẻ đẹp chừng mười bảy mười tám tuổi ở ngôi chùa Liên Tôn gần đó, vì ái mộ thơ Tử nên đã không ngần ngại căn bệnh phong cùi gớm ghiếc, ghé vào căn chòi để thăm chàng. Về sau chàng đã đưa ni cô vào trong thơ của mình với những tình cảm khá đặc biệt.
Một điều nữa, không những ma lực có ở trong lời thơ Tử mà còn nằm trong chính con người Tử khi chàng cất giọng đọc thơ. Yến Lan kể: “Nếu ai đã có lần nghe anh ngâm thơ thì mới cảm thấy hết cái cảm giác kỳ lạ lần đầu bắt gặp: nôn nao, nôn nao. Và cộng với lời thơ, gây nên một không khí mông lung. Chúng tôi như bị dồn vào thế giới nào có suối, có đồi, có bóng dáng những cuộc hành hương, và nhạc điệu cung văn, đồng bóng”.
Yến Lan, Chế Lan Viên, Hoàng Tùng Ngâm, Trần Kiên Mỹ… là những người bạn thân thiết thường ghé thăm chàng để an ủi chàng, một tâm hồn quá khổ đau lúc này như chàng viết: “Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh/ Hơn hết u buồn của nước mây/ Của những tình duyên thương lỡ dở/ Của lời rên xiết gió heo may“. Bạn bè đã được nghe chàng đọc những vần thơ như chảy ra từ xương tủy. Yến Lan kể tiếp: “Anh đã biến thành những chuỗi dài đau khổ, cao thấp chen nhau như từng tia lửa bùng lên, như mảnh lụa tươi vàng bị xé vụn. Anh đã lấy xác thịt minh họa cho lời thơ. Có khi chúng tôi chảy nước mắt. Còn anh, anh đã thành một người say. Các lần ngâm thơ của anh đều diễn ra như thế vì những bài thơ ấy đều là những bài xót xa nhất. Đặc biệt là hôm anh ngâm bài Thánh nữ đồng trinh Maria. Xáo trộn trong đau thương, còn có nỗi trìu mến hân hoan kỳ lạ”.
Hàn Mặc Tử đã đắm mình trong cái không gian vừa đau thương vừa bay bổng đó để làm ra những vần thơ khiến người đời say đắm cho đến lúc chàng phải bước chân vào trại phong Quy Hòa ngày 20/9/1940.
(Theo Thanh Niên)
Phượng Trì Trong Trường Ca Hàn Mặc Tử
Phượng Trì
Trong Trường Ca Hàn Mặc Tử
Trường ca Hàn Mặc Tử của Phạm Duy được kết bằng một ca khúc vút bay từ cảm hứng “thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu” trong bài “Thánh Nữ Ðồng Trinh Maria”:
Phượng Trì ! Phượng Trì ! Phượng Trì ! Phượng Trì !
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang.
1. TA LÀ CHIM PHƯỢNG HOÀNG
Nguyễn Bá Tín trong “Hàn Mặc Tử Anh Tôi” đã cho biết xuất xứ va ý nghĩa của tiếng kêu Phượng Trì:
“Hôm ấy hai anh em chúng tôi đi xem một cuốn phim Tầu “Hỏa Thiêu Lầu Liên Tự. Nội dung là một câu chuyện kiếm hiệp được dựng nên trong bối cảnh vua Càn Long lợi dụng các môn phái võ hiệp để đánh phá ngôi chùa Hồng Liên, một cứ điểm quan trọng nhằm chống lại triều đình Mãn Thanh thời bấy giờ. Xong trận chiến, Cam Phượng Trì, người anh hùng lỗi lạc phái Nga Mi lên đỉnh núi cao, nhìn xuống chiêm ngưỡng chiến công đã đạt. Anh rùng mình khi thấy bao bạn bè anh bị tàn sát. Buồn rầu, anh quay gót phi thân lên ngọn núi, lấy đà, dùng thuật phi hành bay mãi lên cao cho đến khi mất dạng.
Một nữ hiệp là Diệp Tiểu Thanh, vốn yêu mến anh chạy theo tìm. Tiếng nàng gọi: Phượng Trì, Phượng Trì… Phượng Trì, Phượng Trì… vang dội khắp nơi mà con phượng hoàng vĩ đại đó không quay trở lại. Hai tiếng “Phượng Trì” ám ảnh anh Trí một cách kì lạ say đắm đến nỗi đêm sau anh đi một mình xem chiếu lại, anh suýt xoa khen ngợi liền mấy hôm. Anh nói: Phượng Trì, cái tên thật tuyệt, nghe như bay lên cao, bay lên cao, hay quá !” (trang 78-79).
“Anh có vẻ rất thích chí khi tìm được hai chữ “Phượng Trì”… lại rất gần gũi với biểu tượng phượng hoàng của anh” (trang 80):
Nhớ khi xưa ta là chim phượng hoàng
Vỗ cánh bay chín tần trời cao ngất.
2. KHÚC NHẠC LÀM MỌC CÁNH
Beethoven đã chữa bệnh bằng nhạc cho chính đời mình, biểu trưng qua bản hòa tấu số 6 với tựa đề là “Mục Ðồng.” Ðang gặp chuyện buồn mà nghe bản Mục Ðồng là tự nhiên thấy lòng mình thảnh thơi hẳn ra. Hãy nhập thân làm một mục đồng dẫn đàn chiên ra cánh đồng cỏ, có suối chảy róc rách, tâm hồn thanh thản đầy nhựa sống, bạn bè nhởn nhơ vui vẻ. Dòng nhạc đoạn này thật nhẹ, êm như mây trời, đẹp như bờ hoa dại bên đường.
Nhưng bỗng chốc cơn mây đen ùa tới phủ kín ngột ngạt. Sấm chớp hãi hùng. Tiếng nhạc giật đùng đùng gây ấn tượng sợ hãi như đang bị vất vào cơn giông bão khủng khiếp hết đường thoát.
Vậy mà ở đoạn cuối nhạc lại diễn lên một cảnh thật ngạc nhiên. Bão tự nhiên hết, người mục tử hoàn hồn reo vui ca khúc tạ ơn, như thấy lòng mình mọc cánh bay lên một khung trời mới rộng mở thênh thang.
Thì ra nghệ sĩ là người nhìn thấy diễn tiến ba nhịp trong một vũ khúc cuộc đời. Diễn tiến này khoa chữa bệnh tâm thần cũng đã khám phá ra. Bệnh nhân phải được hướng dẫn “nhớ” lại những lúc sung sướng được ấp ủ yêu thương trong đời mình. Rồi qua giai đoạn hai khó khăn hơn, là phải nhận diện và vật lộn với điều khổ tâm vốn cố tìm cách quên đi. Và giai đoạn cuối cùng là có thể “làm hòa” lại với những đau khổ đó. Qui trình này nhà tâm lý có thế giá bậc nhất thời đại là Karl Jung gọi là “Individuation,” dịch thoát theo từ của Tagore là “thực hiện toàn mãn.”
Hàn Mặc Tử lại là chính hiện thân của diễn tiến cuộc vũ hóa xem ra rất mâu thuẫn này: từ những êm đềm thơ đẹp đến những vật vã cô đơn bệnh cùi, rồi được ơn tác động tìm lại niềm vui như mọc cánh thênh thang, không gì cản trở mình được nữa. Ðó là tiến trình mọc lông vũ, mọc cánh.
Vậy thì đây cũng là con đường Việt Nam. Dầm bập khổ lụy chẳng sao hiểu nổi. Nhưng chỉ biết chắc một điều: có một Việt Nam khổ nạn, thì sẽ có một Việt Nam phục sinh, trong một diễn trình lớn hơn. Có một người cùi Hàn Mặc Tử, thì cũng có một thiên tài Hàn Mặc Tử. Ðó là mầu nhiệm cuộc sống: cơn khổ nạn sinh thành.
3. LỰC VŨ HÓA
Trường ca Hàn Mặc Tử là một khúc vũ với tiến trình mọc cánh bay lên, hóa giải mọi oan khiên. Ðúng là Ðường Việt có nghĩa là Vượt. Vậy thì trường ca này phải là một Việt Ðạo Ca, khúc hát trên Ðường Vượt, điệu hò vượt đồi vượt nương những khổ lụy trong cuộc sống, mà cuối cùng là cái chết “đi vào ngàn mai” khi “nghe vang tiếng gọi càn khôn.” Vượt qua bờ hữu hạn sang bờ vô hạn, vượt bờ sinh tử, tử sinh, vượt qua cái tôi nhỏ bé to vo mà vươn tới hòa nhập vào cái “ta” đại thể. Phương thức vượt cần đến cánh chim thiêng. Ngàn mai nào? Tiếng gọi càn khôn nào? Có phải chỉ là một lực hút vũ trụ để tan loãng vào cõi mông lung mờ mịt đáng sợ đến lạnh người, hay là cảm nghiệm được chính Thiên Chúa “Tình Yêu rung động lờp hào quang” như Hàn Mặc Tữ đã thấy?
Ðau khổ vốn gắn liền với kiếp người như một định mệnh. Có những đau khổ giải quyết được, có những đau khổ không thể giải quyết được. Ðau khổ là một phi lí đối với những ai chạy trốn nó. Ðau khổ lại là một mầu nhiệm mang ý nghĩa trong tiến trình chung đối với những người có con mắt để mà thấy như Hàn Mặc Tử. Mọi người cũng như Nguyễn Du với khúc Ðoạn Trường, dù có “Tân Thanh” hay “Vô Thanh” đều phải nhận:
Thảo nào khi mới chôn nhau
Ðã mang tiếng khóc ban đầu mà ra!
Giải quyết bằng biện chứng khoác lác “bước tiến tất yếu cúa lịch sử” duy vật, lấy lao động vinh quang thay Thượng Ðế thì bây giờ đã “cháy nhà ra mặt chuột.” Nơi Hàn Mặc Tử thì việc hóa giải thật lạ lùng: được biến đổi do thần lực Tình Yêu mà cũng là cứu cánh cuộc đời. Một khi đã cảm nghiệm thấy Chúa Tình Yêu, thì lạ quá: “mọi cù lao trôi nổi xứ mêng mông, sẽ qui tụ thâu về trong một mối.” Thì ra tình yêu mới là lực vũ hóa, mới là yếu tố then chốt trong lộ trình hóa giải của Hàn Mặc Tử. Tình yêu là thuốc thần và là năng lực thật theo khoa học ngày nay, như Teilhard de Chardin, một nhà thần học mà cũng là một nhà khoa học, đã chứng nghiệm sức mạnh lạ lùng ấy:
“Một ngày kia, sau khi chúng ta đã làm chủ được gió, sóng biển, thủy triều, và trọng lực, chúng ta sẽ khai mở được năng lực của tình yêu; và khi đó, đúng là lần thứ hai con người khám phá ra lửa.”
Con đường vượt này không còn do sức riêng nhỏ bé của mình được nữa, cũng không do bất cứ suy tưởng của đạo này đạo kia do loài người tìm ra, mà phải do chính “nguồn thiêng liêng yêu chuộng,” sức mạnh tình yêu của Chúa “là đường, là sự thật và là sự sống.” (Gioan 14:6)
4. CẢM TẠ PHÒ NGUY
Lửa tình yêu đã biến đổi Hàn Mặc Tử, đã làm cho Hàn Mặc Tử mọc cánh là chim phượng hoàng theo đúng nghĩa. Ðó là một thực chứng. Tình yêu đó được biểu hiện qua Ðức Mẹ luôn sẵn sàng cứu giúp khi gặp nguy khó:
Maria, linh hồn tôi ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.
Lạy Bà là Ðấng tinh tuyền thánh vẹn
Giàu nhân đức giàu muôn hộc từ bi
Cho t6i dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa xảy ra dưới thế
Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ.
Trong “Hàn Mặc Tử Anh Tôi”, Nguyễn Bá Tín đã cho biết lý do những thay đổi lạ lùng chứa chất nhiều bí ẩn nơi Hàn Mặc Tử:
“Anh Trí là một người bình thường như mọi người, đôi khi còn tầm thường trong những cơn “hỉ, nộ, ái, ố, lạc” trong cuộc đời. Thế nhưng cái gì đã xảy đến, biến đổi anh trở thành khó hiểu như vậy?
Tôi đã từng theo dõi những ham mê, những diễn tiến tâm trạng, những thay đổi tính tình, trong những năm ở gần anh, nên không thể không xem đó là một điều lạ lùng. Theo tôi biến cố anh xuýt chết đuối ở bờ biển Qui Nhơn là yếu tố quyết định cuộc thay đổi ấy. Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn còn sợ hãi vì thấy anh không còn giống anh nữa, anh khác lạ đi với đôi mắt lạc thần. Cảnh tượng đó ám ảnh tôi mãi. Tôi tin anh đã được ơn cứu trợ lạ lùng của Ðức Me, và biến cố trên đã ảnh hưởng sâu đậm đến đường hướng sáng tác của anh.”
“Khả năng cảm thụ tế nhị trong văn chương, trong âm nhạc đều bắt đầu từ đó, từ lúc anh sống thu hình lại cả tâm hòn lẫn thể xác ngược với những ham muốn dồi dào đã có sẵn từ bẩm sinh. Ðang bồng bột nông nổi đầy sức sống, đi từ ham mê này đến ham mê kia, bỗn đột nhiên anh dừng lại, rồi chìm vào một trạng thái đăm chiêu đến xuất thần. Hiện tượng đó đã đến với anh một cách thình lình, như chớp lòa sáng chói, khiến anh ngất đi, ngơ ngác mù mịt, để rồi biến cải anh hoàn toàn.” (trang 113-114).
5. PHẠM DUY HÁT THÁNH CA TRÊN ÐƯỜNG VỀ
Tìm đường vượt, hóa giải oan khiên Việt Nam và của mỗi người, Phạm Duy đã từ đạo ca vượt tới thiền ca. Rồi từ thiền ca vượt tới Trường ca Hàn Mặc Tử, hát thánh ca trên đường về cõi ánh sáng muôn năm. Ông Trần Văn Ân đã nhận xét về tác phẩm này: “Phạm Duy đã vượt Phạm Duy về mọi mặt, nội dung, chủ đề, hình thức, nhạc thuật. Trường ca Hàn Mặc Tử là biểu kiến của Phạm Duy về cuộc đời, về đất nước, về tình yêu, về con người và về Thượng Ðế. Nó là một lựa chọn phù hợp nhất, mãnh liệt nhất. Phạm Duy mượn Hàn Mặc Tử để nói lên cái đau khổ tột cùng của một kiếp người… mà chỉ có Ðạo, có Thượng Ðế mới cứu rỗi được thôi.” “Vào lúc xế chiều của cuộc đời, Phạm Duy mới dành cả một trường ca để xưng tụng một thi sĩ lỗi lạc, đồng thời cũng là để vinh danh Thiên Chúa. Như vậy là con người nghệ sĩ mà ai cũng tưởng là vô đạo, đã từng vào nhạc với tiếng chuông chùa, nay lại muốn đóng lại sự nghiệp của mình bằng tiếng chuông nhà thờ và bằng những lời ca vinh danh Ðức Mẹ Maria.” (Người Việt ngày 7 tháng 12.1993)
Ðối với nhạc sĩ Phạm Duy, thì hình ảnh Ðức Maria “Bà rất nhiều phép lạ” thật dễ cảm và thật gần gũi.
Người ngoại quốc thường nhận rằng người Việt mình có lòng sùng kính Ðức Mẹ Maria một cách đặc biệt, có thể vì trong tiềm thức đã có sẵn hình ảnh chim Âu tổ mẫu bay suốt dọc dài lịch sử. Ðức Maria là biểu hiện của tình yêu Thiên Chúa, là hiện thân nguồn “ánh sáng muôn năm,” là chim tiên, chim “Phượng Trì” theo ngôn ngữ riêng của Hàn Mặc Tử trong hình ảnh Ðức Mẹ Bay Lên Trời.
Ba bài cuối của Trường Ca Hàn Mặc Tử là những khúc “nhạc thiêng liêng” nâng hồn những đứa con được “no rồi ơn vũ lộ hòa chan,” thành “thánh thể kết tinh,” có thể vượt thoát vòng hệ lụy nghiệt ngã mà bay bổng vào cõi “ngời chói vạn hào quang”:
Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
Không u tối như cõi lòng ma quỉ
Vì có Ðấng Hằng Sống hằng ngự trị
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp u linh.
Trong “Hàn Mặc Tử Anh Tôi”, Ông Nguyễn Bá Tín đã nhận ra nguồn cảm hứng của anh mình phát sinh tứ lòng Ðức Maria là chính Ngôi Hai Thiên Chúa ra đời:
Hỡi sứ thần Thiên Chúa Gabriel
Khi Người xuống truyền tin cho Thánh Nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?
Người có nghe náo động cả muôn trời?
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Ðể ca tụng bằng hương hoa sáng láng
Bằng tràng hạt bằng hương hoa chiếu rạng
Một đêm xuân là rất đỗi anh linh.
“Anh nguyện được tâm tư trong sáng để lời thơ biến thành “muôn kinh trọng thể”:
Ðây rồi, đây rồi, chuỗi ngọc vàng kinh
Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý
….
Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước
Cho tình tôi nguyên vẹn tựa trăng rằm
Thơ trong trắng như một khối băng tâm
Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu.
“Ave Maria! Reo như châu ngọc, thơm tho như hoa hương, sáng láng như thất bảo, làm xôn xao tinh tú, náo động muôn trời và vạn vật. Ave Maria ! Nguồn vô tận mà “Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu.” Chưa bao giờ anh biểu lộ được hết tiên phong đạo cốt như trong bài Ave Maria. Anh nói đó là bài thơ đắc ý nhất trong cuộc đời anh.”(trang 83)
6. CHIM PHƯỢNG MARIA và ÐÀN CHIM DŨNG LẠC
Ước vọng bay vượt thoát lên khỏi hiện trạng nghiệt ngã vốn nằm trong tiềm thức chung của nhân loại. Ai mà chẳng một lần mơ thấy mình đang bay. Ðặc biệt hình ảnh này nằm trong máu người Việt với truyện thiêng chim Tiên đẻ ra một trăm trứng nở ra một đàn chim con. Mẹ là chim thì các con cũng là chim. Những đứa con này cũng tập bay theo mẹ lên núi, mà đứa con điển hình là chú bé làng Phù Ðổng bay lên núi Sóc Sơn.
Tín điều Ðức Mẹ hồn xác Lên Trời với lễ mừng ngày 15 tháng 8 là một tôn vinh cao độ đối với Ðức Maria từ thân xác con người hữ hạn có thể vươn lên vô hạn. Ðó cũng là lễ xác quyết phẩm giá con người vốn có thể bay lên như chim phượng là một biểu tượng, mà khoa uyên tâm học ngày nay đang tìm cách khai triển. Đây mới là nhân bản đúng nghĩa, chứ sao lại đi phân thây uống máu nhau để bắt cho bằng được nhận mình là con vật tranh mồi: “người là con vật kinh tế!”
Lòng sùng kính Ðức Mẹ trong nghĩa này cũng chính là lòng xác quyết về chính mình (self-image). Lòng sùng kính Ðức Mẹ là một trong những nét nổi nhất của truyền thống Công giáo Việt Nam, qua chứng tích của Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam với thánh Dũng Lạc là con chim đầu đàn. Không vị nào mà không được nhắc đến việc cầm tràng chuỗi trong tay trong nhà tù cũng như khi ra pháp trường. Vì chắc chắn:
Ðây rồi, đây rồi, chuỗi ngọc vàng kinh
Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý
như Hàn Mặc Tử cảm nghiệm, làm phương cách giúp mọc cánh bay lên được theo chim mẹ.
Thánh Lê Bảo Tịnh đã nói: “Ðức Mẹ chẳng có thể chuộc tội cho ta được, song những ơn Chúa ban cho ta thì lại qua tay Ðức Mẹ… Ai kính mến Ðức Mẹ thật lòng thì Ðức Mẹ sẽ mở lòng cho người ấy kính mến Ðức Chúa Trời nữa.”
7. PHÚT THIÊNG LIÊNG KHỞI ÐẦU
Thi hào Eliot đã để đời một lời thơ: “Ở cuối lộ trình, con người khám phá ra chỗ khởi đầu.”
Lộ trình vũ hóa của Trường Ca Hàn Mặc Tử không phải là một thứ thuốc mê an thần cho quên đi đau khổ của mình và trốn thoát trách nhiệm liên đới đồng loại, nhưng là mở ra một cuộc hành trình mới, bước vào cuộc sống với con mắt đuợc khai mở: bỗng thấy Chúa hiện diện yêu thương qua mọi bước chân như hai môn đệ trên đường Emmaus. Ngài cũng đã và đang đi những bước như vậy trong cuộc sống mỗi người: “Ðức Kitô đã chẳng phải trải qua như vậy rồi mới được vinh quang sao?” (Luca 24:26). Mắt sáng lên hân hoan trở lại báo tin mừng cho anh em mình: Thầy đã sống lại và đang ở giữa chúng ta. Bằng con mắt nghệ sĩ đích thực, bằng con mắt đức tin, bằng con mắt tình yêu được khai mở, Hàn Mặc Tử đã thấy Chúa có mặt tỏ bày tình yêu và “giải nghĩa yêu” qua mọi sự, dưới đáy nước hồ reo, qua tơ liễu run trong gió…
Ðây phút thiêng liêng đã khởi đầu…
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Ðể nghe dưới đáy nước hồ reo
Ðể nghe tơ liễu run trong gió,
Và để xem Trời giải nghĩa yêu.
Hàn Mặc Tử đã thấy được mọi cảnh vật dù rất tầm thường đều mang hương vị kỳ diệu như nhửng phép lạ: “nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, vườn ai mướt quá xanh như ngọc…” Chính nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã nhận ra: “Tất cả đều phải rất mượt mà, rất đậm đà, rất ngọc ngà… dù áo em chỉ là áo trắng, hoa đây chỉ là hoa bắp… Bởi vì thi sĩ Hàn Mặc Tử đã thấy Ðạo ở tất cả, ở đáy nước hồ reo, và nhất là ở tình yêu…”
Ðúng rồi, Trời đang giải nghĩa yêu qua mọi sự… dù là cùi, dù là mồ thối. Ngài đã sống lại và đang hiện ra: “Thầy đây, anh em đừng sợ… Bình an cho anh em… Các môn đệ vui mừng vì trông thấy Chúa”.
Phút thiêng liêng đã khởi đầu. Nào chúng ta cùng lên đường với trường ca vật lộn và phép vượt nhiệm mầu.
(Một phần bài viết đã được trình bày trong “Đêm Thơ-Nhạc với Trường Ca Hàn Mặc Tử” tại New Orleans, Louisiana, với sự góp mặt của nhạc sĩ Phạm Duy)
Lm. Trần Cao Tường
THẤY ĐƯỢC NHỮNG HUYỀN BÍ BÊN KIA CÕI CHẾT QUA HIỆN TƯỢNG HÀN MẶC TỬ
THẤY ĐƯỢC NHỮNG HUYỀN BÍ
BÊN KIA CÕI CHẾT QUA HIỆN TƯỢNG HÀN MẶC TỬ
Lm. Trần Cao Tường

Cả ngàn trường hợp những người đã được các bác sĩ chứng nhận là đã chết thực sự rồi vì một lí do huyền bí nào đó bổng dưng sống lại, đã được bác sĩ Raymond Moody thu góp trong cuốn “Ðời Sau” (Life After Life) xuất hiện năm 1975. Tôi đã tìm đọc trước hết vì tò mò muốn biết những điều bí ẩn về hiện tượng này. Nhưng trong lòng thì vẫn hồ nghi, không biết những kết luận của bác sĩ Moody có thực không, hay cũng chỉ do phản ứng thuốc và cơ thể lúc hấp hối, vì óc cũng như các tế bào đang chết mà nảy sinh ảo giác và những hình ảnh như kiểu “nảy đom đóm mắt” vậy.
Nhưng rồi cái tò mò này dẫn tôi đi xa hơn. Về những thay đổi kì lạ và bất ngờ nơi những người như thế, mà cụ thể là Hàn Mặc Tử.
Hàn Mặc Tử là một nhà thơ thiên tài và thần bí. Thơ của ông chất chứa những ý tưởng và hình ảnh lạ lùng vượt qua ngôn ngữ loài người. Bí ẩn gì đàng sau hiện tượng này? Những vần thơ tuyệt tác của ông do tài năng riêng hay do một nguồn huyền bí nào khác? Ðời sống của ông đã từ những vật vã cô đơn cùng độ đến những cảm nghiệm hút hồn đầy hoan lạc. Ðiều gì lạ vậy?
I. ÐƯỢC ÁNH SÁNG BIẾN ÐỔI (Transformed by the Light)
Ðó là tựa đề cuốn sách do cuộc nghiên cứu nhiều năm bằng phương pháp khoa học của bác sĩ Melvin Morse về hiện tượng những người chết sống lại (Villard Books, 1992), sau sự thành công của chương trình nghiên cứu khác tại Seattle trong cuốn Gần Ánh Sáng Hơn (Closer to The Light, Ivy Books 1990). Thực ra thì bác sĩ Raymond Moody đã thu góp, phân tìch và đưa tới những kết luận chung về những trường hợp trên từ lâu, nhưng chưa mang tính cách khoa học như của bác sĩ Melvin Morse xác nhận trong cuốn “Ðược Ánh Sáng Biến Ðổi”: “Tôi muốn chứng minh một cách khoa học những điều mà những người nghiên cứu khác chỉ phỏng đoán, xem những người chết sống lại được thay đổi như thế nào…” (trang 29)
Ðã chết thật khác với tình trạng hôn mê bất tỉnh. Tôi đã có dịp nói chuyện với một người quen, đã bị hôn mê cả tháng trời sau khi mổ, thì không thấy có hiện tượng như trường hợp chết đi sống lại, mà chỉ có những cơn mơ dài. Vì tình trạng hôn mê vẫn chưa phải là chết thật.
Những gì xẩy ra trong thời gian một người đã thực sự chết rồi sống lại? Có người chết 5 phút, có người chết nửa giờ. Cả mấy trăm trường hợp như vậy được khảo sát bằng phương pháp khoa học đàng hoàng.
Tất cả mọi trường hợp trên đều có 4 điểm chính:
1. Hồn ra khỏi xác: bay lơ lửng trên không nhìn xuống xác của mình, thấy rõ mọi người và mọi sự đang xẩy ra trong khung cảnh mình vừa tắt thở. Thấy các y tá và bác sĩ chạy hối hả. Thấy những người thân yêu đang khóc…
2. Ống tối dài: sau đó hồn như bị hút vào một cái ống dài thật tố đen với một tốc độ nhanh kinh khủng. Betty Eadie kể lại kinh nghiệm của chính mình trong cuốn “Ðược Ánh Sáng Ấp Ủ” (Embraced by The Light, Gold Leaf Press 1992): Ðây đúng là thung lũng bóng tối sự chết” (trang 39) như Kinh Thánh đã từng nói tới.
3. Nguồn sáng: bỗng thấy một nguồn sáng xuất hiện đầy yêu thương và an bình. Ánh sáng này thật sáng nhưng không chói mắt. Có người cảm nghiệm thấy Chúa, có người thấy Ðức Maria…. “thấy tắm trong ánh sáng và thấy một bà mầu nhiệm mặc áo trắng đến cầm tay nâng đỡ tôi.” (trang 191). Lúc đó hồn được soi sáng nhìn lại và thấy tất cả cuộc đời của mình hiện lên trong một nháy mắt. Giáo lý vẫn gọi là phán xét. “Tôi thấy tôi là chính những người tôi xúc phạm, và cũng là chính những người tôi giúp đỡ.” Lời thuật này làm chứng lời Chúa trong Phúc Aạm Thánh Gioan: Chúa không sai Con của Ngài xuống để luận phạt thế gian mà là để cứu rỗi; ai đi trong bóng tối thì đã tự luận phạt rồi.
Rồi hồn sung sướng sửa soạn bước vào vùng ánh sáng thì lại nghe rõ lệnh: chưa phải lúc, hãy trở về. Thế là sống lại. Tất cả đều không thích trở lại như vậy. Cũng có một số trường hợp, thay vì gặp vùng ánh sáng yêu thương, thì lại gặp vùng đen tối hiện hình như quỉ sứ trong biển lửa thật sợ hãi, như bác sĩ Raymond Moody thuật lại trong “AÔnh Sáng Muôn Năm.” (Light Beyond, Bantam Books 1989, trang 26-27).
Betty Eadie tả kỹ về cảm nghiệm nguồn ánh sáng: “Bây giờ thì tôi biết có Chúa thật. Không còn chỉ tin vào một lực vũ trụ, mà tin vào một Ðấng đàng sau sức mạnh đó. Tôi thấy Ðấng đầy yêu thương đã dựng nên vũ trụ và đặt mọi khôn ngoan vào đó. Tôi thấy Ngài điều khiển trí khôn ngoan và sức mạnh này. Tôi thấy trực tiếp rằng Chúa muốn chúng ta trở nên giống như Ngài, và Ngài cho chúng ta những đặc tính giống như Chúa, như óc tưởng tượng và sáng tạo, ý chí tự do, trí thông minh, và nhất là khả năng yêu thương…” (trang 61). “Tôi cảm nhận tình yêu của Chúa vô điều kiện, vượt trên mọi tình yêu trần thế… Và tôi được ấp ủ trong cánh tay của ánh sáng vĩnh cửu này.” (trang 53).
4. Ðược biến đổi: bác sĩ Morse cho biết: “Tất cả mọi trường hợp đều được biến đổi sau khi đã gặp ánh sáng này… Họ trở nên đầy nhiệt lực và dễ thương hơn, đôi khi họ được sức cảm thụ lạ về những lãnh vực tâm linh trước kia không hề biết” (trang 6). Một số người biết trước truyện sẽ xảy ra trong tương lai hay ở xa “Họ ít sợ hoặc không sợ chết nữa, vì họ biết có một cuộc sống mới. Một số người tự nhiên thông minh hơn ra nhiều… biết nhiều nguyên lí toán học ngay cả về nguyên tử… thuyết tương đối của Einstein … phát triển nhiều khả năng tâm linh…” (trang 9-10).
Tất cả những cái thấy trên đây đều được bác sĩ Melvin Morse chứng nghiệm là có thật, chứ không phải do phản ứng của thuốc hay cơ thể lúc chết do ảo giác vì thiếu dưỡng khí hay vì những thần kinh óc bị hủy hoại. (xem Ðược AÔnh Sáng Biến Ðổi trang 194). “Cảm nghiệm ánh sáng không thể tự tạo ra được, mà chỉ có thể có được ở điểm chết hoặc nơi những thị kiến tâm linh rất đặc biệt… Sự thay đổi mạnh nhất và kéo dài lâu nhất được thấy nơi những người đã trông thấy ánh sáng này.” (trang 197).
II. HÀN MẶC TỬ ÐÃ CHẾT MẤY LẦN VÀ ÐÃ THẤY GÌ?
Trong thơ Hàn Mặc Tử, có nhiều ý tưởng và hình ảnh kì lạ khó hiểu. Một vài người vội nghĩ ngay đó chỉ là những tưởng tượng hay bám víu vào niềm tin cho khuây khỏa cơn bệnh, hay chỉ là những kiểu chơi chữ cho bay bướm cao siêu. Nhưng qua những khảo cứu và những khám phá khoa học trên thì chắn chắn ai cũng phải nhận rằng những ý tưởng và hình ảnh này đúng là của một người đã chết, đã thấy nhiều điều huyền bí từ “cõi chết” (phải nói là cõi sống thật mới đúng), rồi sống lại trở về kể lại như một lời chứng.
Sự kiện đầu tiên được Nguyễn Bá Tín trong “Hàn Mặc Tử Anh Tôi” thuật lại. Hồi nhỏ Hàn Mặc Tử rất ham chơi. Hết thích bắn ná cao su thì sang bắn súng, rồi quần Anh và tắm biển, nhất là thời gian gia đình ở Qui Nhơn. “Có lần cả hai anh em xuýt chết vì lội ra quá xa bờ, khi vào bị gió nồm quá mạnh, anh Trí đuối sức gần ngất đi, phải nằm ngửa cho gió đẩy vào bờ. Trông anh sợ hãi khác thường, thần sắc ngơ ngác, như không còn trông thấy gì nữa. Anh thều thào: “Ở Huế, bơi qua cầu Bạch Hổ bị rong vấn chân kéo chìm không lội đuợc, mà sao ít sợ hơn bữa ni.” Rồi anh lẩm bẩm nghe như: Ðức Mẹ… Ðức Mẹ… Tôi tưởng anh cầu nguyện. Trông anh khác lạ đi, tôi càng hoảng sợ: anh không còn giống anh nữa, với đôi mắt lạc thần. Từ đó, anh không tắm biển nữa, sợ nước, ít hoạt động, nói năng nhỏ nhẹ như sợ ai nghe. Thường ngồi khoanh tay nghe hơn là nói, thân thể gầy sút đi. Nhiều lúc như xuất thần, anh không hay biết gì chung quanh, nhất là lúc anh ngâm thơ, giọng như run run đau đớn.”(trang 20-21).
Thật lạ lùng, các diễn tiến trong thơ Hàn Mặc Tử cũng giống hệt như 4 điểm chính trong khảo sát của bác sĩ Melvin Morse:
1. ÐÃ THOÁT HỒN NGOÀI XÁC
Hàn Mặc Tử đã thấy gì hôm đó? Trong “Ánh Sáng Biến Ðổi” bác sĩ Morse thuật lại một truyện xảy ra của Jim cũng suýt chết đuối ở bờ biển California y như trường hợp Hàn Mặc Tử, mà ông gọi là “fear death” (chết vì quá sợ ):
“Khi thấy càng bị đẩy xa bờ hơn, tôi quá sợ hãi, và càng đạp mạnh hơn. Bỗng tôi thấy mình bay lên trên không khí nhìn xuống tôi đang bơi, giống như có hai cặp mắt cùng nối vào một óc… Rồi tôi được tràn ngập bởi một nguồn sáng, như mây bao phủ quanh tôi. Tôi thấy thích thú… Bỗng tôi trở lại thân xác tôi. Tôi nghĩ rằng tất cả cảm nghiệm này kéo dài khoảng một phút.” (161-162)
Ánh sáng trong trường hợp Hàn Mặc Tử ở bờ biển Qui Nhơn được biểu hiện là chính Ðức Maria, mà sau này được ghi lại trong bài Ave Maria:
Maria, linh hồn tôi ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.
Chính Nguyễn Bá Tín cũng xác nhận điều này: “Anh xúc động đến rơi lệ và thì thầm cảm tạ được ơn cứu thoát trong tai nạn đó.” (Hàn Mặc Tử Anh Tôi, trang 82).
Lạy Bà là Ðấng tinh truyền thanh vẹn
Giàu nhân đức giàu muôn hộc từ bi
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.
Và ít nhất ba chỗ trong cuốn “Hàn Mặc Tử,” Ông Trần Thanh Mại có nhắc tới việc Hàn Mặc Tử chết đi sống lại trong thời gian bệnh đã nặng: đôi ba lần (trang 55, 80) rồi bốn năm lần (trang 136).
Chính Hàn Mặc Tử đã ghi lại:
Toan ngất đi trong cơn mê khoái lạc
Mẹ dấu yêu liền vội đền tay nâng.
…
Anh đã thoát hồn anh ngoài xác thịt
Ðể chập chờn trong ánh sáng mông lung.
(Sáng láng)
Trong Kinh Thánh, Thánh Phaolô có lần kể lại chuyện về chính mình bị ném đá chết ngất đi tại Lystra: “Tôi sắp kể về các cuộc thị kiến và khải minh Chúa ban cho tôi. Tôi biết có một người trong Ðức Kitô, cách đây mười bốn năm (hồn còn ở trong xác hay đã ra ngoài xác tôi không biết, có Thiên Chúa biết) được bốc lên tầng trời thứ ba; và tôi biết người đó (hồn còn ở trong xác hay đã ra khỏi xác tôi không biết, có Thiên Chúa biết) đã được bốc lên Thiên Ðàng và được nghe thấy những tiếng nói mà người thường không có thể cũng không được phép phát ra. Ðó là người tôi muốn khoe chứ tôi đây thì khoe làm gì, vì chỉ thấy những điểm kém hèn. Giả tỉ tôi nhất định khoe thì cũng chớ ai cười tôi là khùng, vì tôi nói đúng sự thực; nhưng tôi sẽ không nói nữa, vì những vụ thị kiến kia quả là vĩ đại khác thường, tôi sợ vì đó mà có người đánh giá tôi cao hơn những tư cách họ mắt thấy tai nghe ở nơi tôi.”(2Co 12:1-6).
2. HỒN BAY VÙN VỤT
Nhất là trong “Hồn Lìa Khỏi Xác”, Hàn Mặc Tử đã diễn lại y như bác sĩ Melvin Morse đã khảo sát trong giai đoạn sau khi chết bị hút vào ống tối dài, mà Betty Eadie tả là thung lũng bóng tối sự chết:
Há miệng cho hồn văng lên muôn trượng
Chơi vơi trong khí hậu chín tầng mây
Ánh sáng lạ sẽ tan vào hư lãng
Trời linh thiêng cao cả gợi nồng say.
Vì không giới nơi trầm hương vắng lặng
Nên hồn bay vùn vụt tới trăng sao
Sóng gió nổi rùng rùng như địa chấn
Và muôn vàn thần phách ngả lao đao…
Rồi hồn ngắm tử thi hồn tan rã
Bốc thành âm khí loãng nguyệt cầu xa
Hồn mất xác hồn sẽ cười nghiêng ngả
Và kêu rêu thảm thiết khắp bao la…
Ðêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng
Ðể cho hồn bớt nỗi bi thương
Nhưng khốn nỗi xác ta đành câm tiếng
Hồn đi rồi không nhập xác thê lương.
3. TẮM GỘI Ở TRONG NGUỒN ÁNH SÁNG
Thấy ánh sáng muôn năm là yếu tố then chốt trong thiên tài nghệ sĩ sáng tác của Hàn Mặc Tử. Ông thấy và diễn tả lại một cách trung thực. Không phải như một luận đề, suy diễn, hay kết luận của hệ thống giáo lí nào cả, mà là một thực chứng.
Nhiều khi ông điên cả lên vì cảm thấy như vậy mà không làm sao dùng ngôn ngữ loài người mà diễn đạt nổi. Cái điên trong tập “Thơ Ðiên” không nhất thiết vì quá đau đớn, mà vì cái xốn xang như trong “Kêu Gọi”:
“Ý còn ở trong lòng thì rạo rực xốn xang, khi phô phang lên giấy thì tê dại, ngất ngư, như không có chút gì là rung động nữa… Lòng ta hừng hực mỗi khi nắng hanh lên. Ấy là dấu hiệu mùa thơ đã chín. Gặt hái cho mau, kẻo ngọn thơ càng cao, người thơ càng điên dại…” (Chơi giữa mùa Trăng, trang 27-28).
Nguồn ánh sáng mà Hàn Mặc Tử thấy là một ngôi vị Thiên Chúa tình yêu, chứ không phải là một lực vũ trụ vô vi, vô vị nhạt nhẽo. Là chính Chúa Giêsu trong cảm nghiệm của thánh Phaolô trên đường Ða-mát:
“Ðương khi còn đi đường, khúc đó đã gần tới Ða-mát ngay trước cổng mở vào thành, chợt ông trông thấy có ánh sáng từ trời bủa xuống bao kín chung quanh ông. Ông ngã xuống đất, và nghe thấy có tiếng bảo rằng: Sau-lô, Sau-lô, sao nhà ngươi bách hại ta hoài? Ông hỏi: Ngài là ai? Tiếng nói trả lời: Ta là Giêsu…” (TÐCV 9:3-5).
Cảm thông và kết hợp với Thiên Chúa là một tương giao rung động con tim chứ không phải như kiểu tượng muối trở về hòa tan trong biển cả là cội nguồn mình. Ðó là một tương giao thân tình kiểu “I – Thou” trong tâm tình của Buber.
Và như Betty Eadie, Hàn Mặc Tử thấy hồn sung sướng được ấp ủ trong Tình Yêu:
Ai tới đó mà chẳng nao thần trí
Tòa châu báu kết bằng hương kì dị
Của Tình Yêu rung động lớp hào quang
….
A ha hả, say sưa chê chán đã
Ta là ta hay không phải là ta?
Cò gì đâu cả thể với cao xa
Như cội rễ của trăm ngàn đạo hạnh.
(Siêu Thoát)
Và trong bài “Ngoài Vũ Trụ,” hồn thơ còn thấy rõ hơn:
Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
Không u tối như cõi lòng ma quỉ
Vì có Ðấng Hằng Sống hằng ngự trị
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp u linh.
….
Tình thơm tho như ngấn lệ còn nguyên
Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên
Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng.
4. ÐƯỢC BIẾN ÐỔI: QUI TỤ THÂU VỀ TRONG MỘT MỐI
Nhiều người trong cuộc khảo cứu của bác sĩ Melvin Morse, sau khi chết đi sống lại, đã trở nên khác lạ với những khả năng cảm thụ đặc biệt. Trường hợp Olaf trong “Ðược Ánh Sáng Biến Ðổi” thì thấy: “đang trôi trong vũ trụ vô bờ bến… Vũ trụ như những bọt xa bông đang qui về trọng tâm theo một hình thái phức tạp, nhưng tôi hiểu được trọn vẹn, thấy được mọi sự đều có nghĩa… cảm thụ được toàn thể vũ trụ…” (trang 12-13).
Hàn Mặc Tử cũng đã được khả năng lạ lùng này, là thấy mọi trắng đen đỏ vàng ,buồn vui, trầm bổng cuộc đời không phải là những mảnh vỡ vô nghĩa hay những cù lao trôi nổi phi lí, mà đều qui tụ thâu về trong một mối, mang trọn ý nghĩa trong một chương trình mầu nhiệm như lới Kinh Thánh:
“Chúng ta biết rằng mọi sự đều đi liền với nhau sinh ích cho những ai được Chúa yêu thương, tức là những người được Chúa kêu gọi theo chương trình của Ngườ.i” (Roma 8:28).
Cái thấy này cũng đang phù hợp với những khám phá mới nhất về khoa học vật lý. Từ nhãn quan vật lý cá biệt “những cù lao” của Newton đến thuyết tương đối của Albert Einstein, và bây giờ là “quantum physics,” dịch thoát là “vật lý vũ trụ nhất thể,” mọi sự xuất phát và “qui tụ thâu về trong một mối,” đều liên hệ tới nhau vì chia sẻ cùng một lực sống.
Hàn Mặc Tử đã tả lại cái thấy này trong bài Siêu Thoát:
Những cù lao trôi nổi xứ mênh mang
Sẽ qui tụ thâu về trong một mối.
Và tư tưởng không bao giờ chắp nối
Là vì sao? Vì sợ kém thiêng liêng
Trí vô cùng lan nghĩ rộng vô biên
Cắt nghĩa hết những anh hoa huyền bí
Trời bát ngát không cần phô triết lí
Thơ láng lai chấp chóa những hàng châu
Ta hiểu chi trong áng gió nhiệm mầu?
Những hạt lệ của trích tiên đầy đọa.
III. THƠ MẦU NHIỆM RA ĐỜI
Tất cả những cái thấy trên đúng là như vẽ ra cảnh thiên đàng trong hình ảnh Kinh Thánh qua các thị kiến của các tiên tri và Khải Huyền, thật lạ lùng vượt qua sức hiểu biết con người, nhưng có thực, giống như cái thấy của thánh Gioan trong Kinh Thánh:
“Tôi thấy một trời mới và một đất mới, cảnh trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến dạng, cả biển cũng không thấy đâu. Tôi thấy thành thánh, thành Giêrusalem mới, từ Thiên Chúa trên trời hạ xuống, xinh đẹp như một tân nương trang điểm chờ chồng. Rồi tôi nghe có tiếng lớn phán ra từ bảo tòa: Ngươi có thấy đô thị này chăng? Tại đây Thiên Chúa sống giữa loài người. Người sẽ đặt trú sở của Người giữa chúng; và chúng sẽ lã thần dân của Người, và chính Người sẽ là Thiên Chúa của họ, đúng như mấy chữ Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Người sẽ lau mắt họ cho ráo lệ sầu, sẽ không còn chết chóc, không còn tang chế hay là buồn rầu nữa. Thế giới cũ đã qua.” (Khải Huyền 21:1-4).
Với cái thấy đã một lần cảm nghiệm, Hàn Mặc Tử đã diễn ra thành những vần thơ tuyệt tác có một không hai trong nền văn học Việt Nam, và của nền tu đức Thiên Chúa giáo. Ông nhìn cuộc sống và mọi sự, ngay cả con người cùi của mình, với một nhãn quan mới chan hòa ánh sáng chứ không u ám vật vã như trước nữa.
Đúng là “thơ trong trắng như một khối băng tâm,” Thơ Mầu Nhiệm Ra Đời, phát khởi tuôn trào từ Nguồn Thiêng Viên Mãn.
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca tụng, – bằng hoa hương sáng láng
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng
Một đêm xuân là rất đỗi anh linh?
Ông Thái Văn Kiểm trong bài nói chuyện tại giáo xứ Paris dịp giỗ 50 năm Thi Hào Hàn Mặc Tử ngày 11.11.1990 đã có những nhận xét:
“Nhà thơ của chúng ta bẩm thụ được cái thiên tư cao quí là nhìn thấy được cái hư ảo, cảm được cái vô lượng và nghe được sự yên lặng của vô thủy vô chung.”
“Nơi đây vang dội những lời cầu nguyện, những hương lạ mê ly, những âm thanh kỳ diệu, tất cả chìm ngập trong bể hào quang và trong tinh hoa của thi vị.” Vì “theo Hàn Mặc Tử, thi ca là một sáng tạo thuần túy của Thượng Ðế, và để báo đáp công ơn đó, thi sĩ phải là kẻ xướng thánh ca, cảm thông với thượng Ðế, ca ngợi chân thành sự nghiệp thiêng liêng và vinh quang bất diệt của Người. Thi sĩ là gạch nối, là trung gian ưu tú giữa Hóa Công và nhân loại.” Ðức Tin tuyệt đối nơi Thượng Ðế đã giúp Hàn Mặc Tử trải qua những thống khổ nơi trần gian, đồng thời hoàn bị thi ca của chàng đến mức độ cao siêu và thành tựu.”
Hàn Mặc Tử đã làm chứng đức tin bằng thơ văn về những gì huyền bí đã thấy bằng thực chứng qua những lần chết đi sống lại, và đã chuyển đạt đựợc Sứ Điệp Tin Mừng của Đạo Chúa. Ðọc thơ Hàn Mặc Tử, thì một người không cùng niềm tin trong Đạo Chúa cũng nhận ra có linh hồn, có thung lũng “ngục tổ tông,” bóng tối sự chết, có phán xét, có thiên đàng, có hỏa ngục, có buồn đau vật vã của một kiếp người như những cù lao trôi nổi, nhưng mọi sự sẽ “qui tụ thâu về trong một mối,” và nhất là có Chúa Trời là nguồn Ánh Sáng Tình Yêu.
Có nhiều người Công giáo viết văn, làm thơ, nhưng chỉ khi nào chuyển được sứ điệp của Chúa Kitô, của của đau khổ thập giá và ánh sáng Phục Sinh, thì mới có được những nhà văn, nhà thơ Công giáo như Hàn Mặc Tử. Ðúng như lời Hoài Thanh đã nhận xét trong Thi Nhân Việt Nam:
“Thơ Hàn Mặc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể.” (trang 212)
(Một phần bài viết đã được trình bày trong “Đêm Thơ-Nhạc với Trường Ca Hàn Mặc Tử” tại New Orleans, Louisiana, với sự góp mặt của nhạc sĩ Phạm Duy)
Lm. Trần Cao Tường
