Archive
Hàn Mặc Tử và Chúa
Hàn Mặc Tử và Chúa
Bs. Lê văn Lân
Hàn Mặc Tử: một kiếp khổ đau!
Cách đây 65 năm, vào buổi trưa ngày 11 tháng 11 năm 1940, một người nằm xuống sau nhiều năm tháng đau đớn, nứt nở thi.t da. Ông ta là bệnh nhân của trại cùi Qui Hòa mang số hiệu 1314. Trên cây Thánh giá trồng trên mộ phần của ông, ghi hàng chữ Phêrô Phanxico Nguyễn Trọng Trí. Đây chính là nhà thơ Hàn Mặc Tử.
Ông vừa giống lại vừa khác thế nhân chúng ta. Giống ở chỗ cùng mang kiếp nhân sinh, với thịt xương và một cấu trúc thần kinh cao đẳng, biết ăn, biết ngủ, biết cảm xúc, biết tư duy. Nhưng khác ở chỗ: Thế nhân chết đi thì rơi vào quên lãng, tĩnh mịch còn Hàn Mặc Tử chết rồi nhưng tiếng thơ còn mãi! Chúng ta chết rồi, linh hồn có thể còn khắc khoải chưa biết về đâu vì không trang bị .một niềm tin tưởng siêu linh, còn Hàn Mặc Tử thuở sanh tiền đã đối đầu và tôi luyện trong niềm đau khổ cực điểm nên linh hồn đã được thăng hoa trong một niềm tin vào Chúa!
Hàn Mặc Tử: Một linh hồn vượt hẳn cõi nhân gian!
Nhìn lại phong trào thơ mới ở Việt Nam khoảng 1932-1945, sự xuất hiện của tiếng thơ dồi dào và sâu đậm nhất trong khuynh hướng nói về cõi Chết, về siêu hình, nhất là về Chúa thì độc nhất có Hàn Mặc Tử .
Tập Thơ Điên của HMT khiến người đọc bỗng hoàn toàn rời khỏi cái thế giới thực tại của thế nhân đến nỗi Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam phải thảng thốt viết rằng:
Một tác phẩm như thế, ta không thể nói hay hay dở, nó đã ra ngoài vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn…Ta chỉ biết ta đương đứng trước một người sượng sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình yêu…
Ông Hoài Thanh thú nhận rằng ông phải bỏ ra ròng rã “ngót một tháng trời “để đọc toàn bộ thơ của HMT và ông “đã mệt lả” (sic) (tr.205) . Kể ra thật đúng khi ta tìm gập rất nhiều câu thơ như sau:
Hồn của HMT không những chỉ vơ vưởng trong cõi vô hình mà nhiều lúc đã:
Cười như điên sặc sụa cả mùi trăng….
Gào thét một hồi cho rởn óc
Cả thiên đàng, trần gian và địa ngục
(Hồn là ai?)
Hồn có lúc lạc vào nơi
thiên sầu, địa thảm giới Lâm bô,
có lúc lại bay ra Ngoài vũ trụ để:
Tắm gội trong nguồn ánh sáng,
Ca những điệu ngọc vàng cao sang sảng.
Hoặc có lúc tinh khiết, nhẹ nhàng ngoài mức ngôn ngữ phàm tục :
Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí
Xa xôi đồi trăng mọc nước Huyền vi
Đây miên trường, đây vĩnh cửu, tề phi
(Đừng cho lòng bay xa)
Hàn Mặc Tử: một viên kim cương trong giòng thơ Kytô giáo ở Việt Nam!
Hàn Mặc Tử đã sống đạo, chết đạo và sáng tác thơ Đạo một cách tha thiết khiến nhiều người cho Tử là một “nhà thơ tôn giáo”, nhưng thực sự Tử đã vượt hẳn lên cái mục đích “truyền bá đức tin” của những thừa sai và giáo đồ trong giai đoạn tiên khởi ở Việt Nam. Thơ của HMT là một sự cảm nghiệm độc đáo! Đọc thơ Tử, người ta bèn thấy nguồn đạo trong thơ Tử không hạn hẹp với ý nghĩa một tôn giáo mà là một cái gì thuộc về hoàn vũ (universel).
Hoài Thanh trong cuốn Thi Nhân Việt Nam (1941) nhận định rất đúng rằng:
“Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng Baudelaire và qua Baudelaire, ảnh hưởng nhà văn Mỹ Edgar Poe, tác giả tập Chuyện lạ. Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường đến Baudelaire, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh Kinh của đạo Thiên Chúa.
Chính nhờ Thánh kinh và tinh thần Tin Mến Cậy sốt sắng vào Thiên Chúa. thơ Hàn Mặc tử đưa người đọc gần Chúa vô cùng!
HMT vướng vào bệnh cùi lúc tuổi còn trẻ đang lúc yêu đời. Bệnh này như một đi.nh mệnh đã đọa đầy Hàn Mặc Tử trong một vũng đau thương tuyệt vọng:
…Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?
(Những giọt lệ)
…Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bồi hồi ruột gan
(Muôn năm sầu thảm)
Hàn Mặc Tử trong bài “Hồn là ai” đã tự mô tả cái hành hạ thể xác bằng giọng thống thiết sau:
…Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên…
Dựa vào sự phát triển của bệnh cùi trong đời ông, ta thấy ba giai đoạn tương ứng trong thi nghiệp của ông:
1) Giai đoạn tiền bệnh: trước năm 1936 (nghĩa là trước lúc vô bệnh viện Qui Hòa (1937) ,đánh dấu bằng những tập ” Đường luật” và “Gái Quê”với một giọng trong sáng, nồng thắm, yêu đời cuồng nhiệt, một khí lực phương cương dồi dào tính dục trong lứa tuổi đôi mươi.
2) Giai đoạn bệnh phát lộ đánh dấu bằng tập thơ “Đau Thương”, “Thơ Điên” nên tiếng thơ thống thiết, cực kỳ bi thảm như một con chim biết rằng mình sắp chết. Thiên kiến của người đời xa lánh mình cọng vào đó sự đau khổ vì tình duyên trắc trở đã làm HMT càng đau khổ:
Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh
Hơn hết u buồn của nước mây
Của những tình duyên thường lở dở
Của lời rên xiết gió heo may
3) Giai đoạn cuối cùng của Hàn Mặc Tử được định mốc bằng tập thơ “Xuân Như Ý”. Khi ý thức rằng mình không còn hy vọng sống lâu HMT càng tìm nguồn giải thoát cho linh hồn khắc khoải qua tôn giáo và những khải thị siêu phàm. Giọng thơ không còn rên rĩ, mà thanh thoát, thăng hoa.
Vào bệnh viện Qui Hòa, thi nhân đã tập được đức tính an vui trong nguồn đau khổ. Trong một lá thơ gửi cho ông bạn thân là Trần Thanh Địch, Tử kể lại rằng mỗi ngày đều đều ông liên lỉ ít nhất năm sáu lần vừa đọc kinh vừa ngâm thơ.
Nhưng ba tháng sau, cơ thể quá suy kiệt và thêm bị chứng kiết lỵ nên vài ngày thì tạ thế (ngày 11 tháng 11 năm 1940 hưởng dương 29 tuổi).
Trên giường bịnh, biết mình sắp chết, tâm hồn thi nhân vẫn vô cùng sáng suốt và giữ một thái độ bình thản như sốt sắng viết một bản kinh nguyện bằng tiếng Pháp là La Pureté de l’âme. (Sự thanh khiết của linh hồn) để dọn mình về với Chúa.
Lý tưởng Thiên Chúa giáo trong thơ Hàn Mặc Tử
Trên chủ trương sáng tác thi văn của ông, Hàn Mặc tử đã khẳng dịnh lý tưởng Thiên Chuá giáo của mình:
“ Đức Chúa trời tạo ra trăng, hoa, nhạc, hương là để cho người đời hưởng thụ, nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận hưởng một cách say sưa, và nhân đấy chiêm nghiệm lẽ mầu nhiệm, phép tắc của Đấng Chí tôn. Vì thế, trừ hai loài trọng vọng là “ thiên thần” và “ loài người”, Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: “ loài thi sĩ”! Loài này là những bông hoa rất quí và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mạng rất thiêng liêng: Phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của Người, và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho tinh sạch. (Thư gửi cho Trọng Miên: Quan niệm về Thơ).
Đọc thơ của HMT, người ta đã tìm thấy Thánh Kinh, cho nên lời thư viết trên này chỉ là phu diễn cái ý cốt tủy cho rằng thế gian này tạo ra do lòng yêu và vinh quang của Thiên Chúa.”Chính cái chìa khóa tình yêu đã mở tay Thiên Chúa tạo dựng các loài”( thánh Thomas d’Aquin). Sự sáng tạo là điều Chúa muốn như là một sự ân tứ dành cho con người, như là một tài sản chuyển đạt và giao phó cho con người thụ hưởng (Car la création est voulue par Dieu come un don adressé à l’homme, comme un héritage qui lui est destiné et confié.–Catéchisme de l’Église Catholique 1997).
Nhưng theo Tử, thì con người phàm tục thế gian ít khi hiểu đưôc và mang ơn “loài thi sĩ” nếu không nói là vô tình bạc đãi khinh khi.
Qua biểu tượng Máu và Hồn, Tử đã vô tình dự phóng bản ngã của mình trênhình ảnh của Chúa Giêsu trong gương cứu chuộc trong buổi Tiệc Ly với lời nói cuối cùng với các môn đệ trên bánh thánh và rượu nho:
“Này đây là Mình ta, hãy cất lấy mà ăn. Này đây là chén Máu ta, hãy cất lấy mà uống”.
Hàn Mặc tử, khi viết tựa cho tập Tinh Huyết của Bích Khê đã viết rằng:
“Sáng tạo là điều kiện cần nhất, tối yếu của thơ, mà muốn tìm nguồn cảm xúc mới lạ, không chi bằng đọc sách về tôn giáo cho nhiều. Như thế, thơ văn mới trở nên trọng vọng, cao quí, có một ý nghĩa thần bí.
Đọc nhiều thơ của HMT, người ta thấy tràn ngập nào là ánh sáng, nào là hương, nào là hoa, nào là châu báu, nào là tiếng nhạc, nào là lời kinh… ít ai ngờ đó là khung cảnh trang hoàng để phụng vụ trong những giáo đường Công giáo trong thực tế mà trí tưởng tượng phong phú của thi nhân đã chuyển hóa ra thành những lời thơ trọng vọng… Ngay cả những lời thơ trùng trùng điệp điệp về sự vãi máu, nôn khạc huyết ra từ cổ họng của HMT, biết đâu chẳng đã được gợi hứng từ hình ảnh con chim bồ nông mổ ngực để máu vọt ra cho đàn chim con xúm lại mà uống; hình này thường được chạm trên cánh cửa của Nhà Tạm đựng Mình Thánh Chúa trên bàn thờ của giáo đường (Chim bồ nông – pélican là loài thủy điểu, khi bắt được mồi thường nuốt tạm và chứa trong cái bìu da ở cổ họng để đem về cho bày con mổ vào họng mình ra mà ăn. Do đó, có truyền thuyết là chim bồ nông tự mổ ngực mình ra để lấy máu nuôi con.
Thánh Thomas d’Aquin trong Vần thơ Thánh vịnh (Rhythmus Sancti) đã dùng hình ảnh chim này mà ca vịnh Thánh thể như hình Chúa Giêsu đổ huyết ra vì nhân loại. Còn Alfred de Musset, nhà thơ Pháp (1810-1857) đã thi vị hóa hình ảnh bồ nông như thân kiếp của thi nhân làm thơ bằng máu lệ của mình trong một bài thơ danh tiếng.
HMT lấy hứng về thi liệu từ Kinh thánh và những bài kinh nguyện của tín đồ Công giáo để xây dựng tứ thơ của mình.
Bài Thánh Nữ Đồng trinh trứ danh của HMT đã diễn đạt lại ý tứ của kinh Kinh Mừng quen thuộc của người Công giáo với một giọng vô cùng thành khẩn:
…Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn,
Giầu nhân đức , giầu muôn hộc từ bi,
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lậm lụy vừa trải qua dưới thế
Tôi cảm động rưng hai hàng lệ
…Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước,
Cho tình tôi nguyên vẹn tựa trăng rằm
Theo Linh mục Phan Phát Hườn, bài AVE MARIA của Hàn Mặc Tử mà trong đó có các đoạn thơ trên đây đã gây một xúc cảm sâu xa trong tâm hồn người đọc, công giáo hay không công giáo. Đọc bài thơ này người ta liên tưởng tới bài LA VIERGE À MIDI của Paul Claudel, hai bài thơ đều nói về Trinh nữ Maria nhưng hai giọng văn khác hẳn. Đọc lên bài thơ của Claudel ta chia sẻ những tâm tình của một người vô thần sau khi đã quay về với Chúa, tỏ tình rất mực đơn sơ với Trinh Nữ. Đọc lên bài Ave Maria của Hàn Mặc Tử, ta cảm được, ta sờ được, ta thấy được sự cao sang của Trinh Nữ.
Trong thi ca của HMT, người ta còn bắt gặp một ý thơ khác lấy từ Kinh Tin Kính như :
Ngày tận thế là ngày tán loạn
Xác của Hồn, Hồn của Xác y nguyên.
HMT lại mang cái thị kiến của thánh Yoan trong sách Khải huyền về thành thánh Yêrusalem: “ánh quang của thành tỏa ra tựa hồ minh châu cực quí, như ngọc thạch bóng lộn ánh lưu ly…vào bài Xuân Đầu tiên của mình qua câu:
… Trái cây bằng ngọc vỏ bằng gấm
Còn mặt trời kia tợ khối vàng
… Trên chín tầng diêu động cả trân châu
Dường sống lại muôn ngàn hoa phẩm tiết.
…
Niềm khổ đau cứu độ
Khảo sát về thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta nhìn thấy một thiên tài. Bệnh hoạn và nghi.ch cảnh chỉ là những tác nhân duyên khởi đã bức bách thiên tài này sáng tác ra nhiều bài thơ kỳ lạ như những hạt cát khiến những con trai dưới biển sanh ra những hạt trân châu.
Với Hàn Mặc Tử, sự đau đớn về thể xác, niềm tủi cực về tinh thần cũng gây ra một phản ứng điên đảo khiến ông cười, nói, gào, thét lung tung để giải thoát tâm tư. Nhưng ông không hề loạn trí, nghĩa là điên thực sự mà nói năng không mạch lạc theo luận lý. Tập “Thơ Điên” là sự chuyển hoá sự đau khổ qua một “hiện tượng thoái hồi” như là một phản ứng chống đỡ tự nhiên để giữ quân bình lành mạnh cho trí óc.
Hàn Mặc Tử , cũng như bao thi nhân vĩ đại có điểm độc đáo phi thường là đau khổ không dìm sâu họ xuống bùn đen mà đưa họ lên cao lên cao gần Thượng Đế
Ở Hàn Mặc Tử, thể xác đau đớn ê chề nhưng linh hồn thì thăng hoa trong sáng nhờ đôi cánh của tôn giáo được chắp vào trí tưởng của thi nhân.
Hàn Mặc Tử trong tận cùng đau khổ của thế gian đã tự ví mình: khi xưa ta là chim phượng hoàng, Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất”; ý tứ mình “cao cường hơn ngọn núi”; hồn mình “chơi vơi trong khí hậu chín tầng mây”
Trong bài viết Mùa Chay: Suy nghĩ về Đau Khổ trong Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu giúp số 223, tháng 03- 2005, tác giả Thế Hùng đã viết:
“Chuá Giêsu là gương mẫu sống động cho những người đau khổ” Chúa Giê su không cho chúng ta một câu trả lời trừu tượng về vấn nạn đau khổ.Hơn thế, Ngài cho chúng ta một câu trả lời sống động và một gương mẩu để đi theo. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chỉ ra điều này một cách rõ nét trong Tông Thư năm 1984 “Salvicifi Doloris” (Ý nghĩa về Đau khổ con người theo Kitô giáo). Ngài viết rằng khi có ai hỏi Chuá Kitô tại sao con người phải đau khổ, người đó “không thể không chú ý đến Người đặt câu hỏi vì chính Người đó cũng đau khổ và ao ước trả lời câu hỏi đó từ chính thập giá, từ con tim đau khổ của Người… Chuá Kitô không giải thích một cách trừu tượng lý do vì sao có đau khổ, nhưng trước hết, Ngài nói:
Hãy theo Ta! Qua cuộc đau khổ của con, con hãy dự phần vào công cuộc cứu rôĩ thế giới. Dần dần khi cá nhân đo vác lấy thập giá mình, trong tinh thần liên kế với thập giá Chuá Kitô, ý nghĩa cứu độ của đau khổ sẽ hiện ra trước mắt người đó”
Hàn Mặc Tử lại dự phóng sự đau khổ của mình như hình ảnh cứu chuộc của Chúa GiêSu: qua một hiện tượng “tự đồng hoá”( identification ) với Chuá Kitô về tuẫn đạo (Martydom). HMT đã tự gán cho mình vai trò làm Thi Nhân đã đổ hết bao nhiêu nguồn máu lệ, đã từng uống mật đắng cay trong khi miệng vẫn tươi cười sốt sắng. (Thay lời Tựa – Xuân Như Ý). Trong bài Nguồn Thơm, HMT đã nhiệt tình tôn vinh những người đã vác Thập gía theo chân Chuá Giêsu:
_ Đây, thi sĩ của đạo quân Thánh giá
Nửa đêm nay vùng dậy để tung hô
Để sớt cho cả xuân, xuân thiên hạ
Hương mến yêu là lộc của lời thơ
Hàn Mặc Tử lại còn tha hóa tình cảm của mình khi mơ đến một “mùa Xuân Thái Hòa” của” năm muôn năm, trời muôn trời” cho cả và thiên hạ.
Linh hồn của con người đau khổ thường hay lên gần Chúa. Đó là tâm trạng của Hàn Mặc Tử trong những ngày cuối cùng bệnh hoạn, khổ đau trong trại cùi Qui Hòa. Hàn Mặc Tử đã thị kiến đến một mùa Xuân Như Ý:
“Vinh quang Chúa cả trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”.Câu thánh vịnh về mùa Giáng Sinh này đã khơi nguồn cho Hàn Mặc Tử khi viết như sau:
Tứ thời xuân! Tứ thời xuân non nước!
Phút thiêng liêng nhuần gội áng thiều quang
Thiên hạ bình, và trời tuôn ơn phước
Như triều thiên vờn lượn khắp không gian
(Nguồn thơm)
Ý thơ của Hàn Mặc Tử trong tập Xuân Như Ý khai triển một cách kỳ diệu vô cùng. Tử cho rằng mình giống Khổng Tử khi chép kinh Xuân Thu với một cảm hứng dào dạt:
Ngời phép lạ của đức tin kiều diễm
Câu tàn tạ không khen long cả phiếm
Bút Xuân Thu mùa nhạc đến vừa khi
(Đêm xuân cầu nguyện)
Sự thăng hoa của Hàn Mặc Tử được kết tinh bằng hình ảnh của một thiên đường đầy vẻ đẹp tuyệt vời mà con người không còn than khóc, đau khổ nữa, một thiên đường đầy: “Nhạc thơm, hương ấm, mộng ngọc, hoa trinh bạch, đàn ly tao, tranh tuyệt phẩm”.
Câu nói của thi sĩ Pháp Alfred de Vigny: “Những khúc hát tuyệt vọng nhất là những khúc hát đẹp vô vàn.”phải chăng rất đúng khi áp dụng vào trường hợp của nhà thơ vô cùng khổ đau Hàn Mặc Tử.
Như là một lời kết, chúng ta hãy nghe Linh mục Phan Phát Hườn nhận định rằng :
Hàn Mặc Tử bằng thi thơ của mình muốn nói lên điều mà ông TIN, điều mà các nhà thần học đã tốn biết bao nhiêu mực, bao nhi u giấy từ hế kỷ này qua thế kỷ khác nói về sự kiện lịch sử Chúa xuống thế làm người, về mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể trong cung lòng của Trinh Nữ Maria. ( Đức Tin trong thơ Hàn Mặc Tử – Tựa cho cuốn Hàn Mặc Tử: Đau Khổ và Thơ của Lê văn Lân)
Với tâm tình của người yêu thơ Hàn Mặc Tử, bài viết này xin được xem như một nén tâm hương cho một thi hào đã dùng những đau khổ và máu lệ của mình mà nhào nặn ra biết bao lời thơ đẹp và sâu săc tuyệt vời như những hạt kim cương.
LÊ VĂN LÂN
Mùa Phục Sinh 2005
Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử (1912-1940)
Trần Tuấn Kiệt
Nhà thơ với cuộc đời đau thương có một không hai này, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22-9-1912 ở Lệ Mỹ (Đông Hới). Ông làm thơ từ thuở nhỏ. Lấy hiệu là Phong Trần và Lệ Thanh, trong những năm 16 tuổi. Vốn ở Qui Nhơn từ nhỏ. Cha mất sớm, nhà nghèo. Học đến năm thứ ba ở trường Qui Nhơn, kế đó mắc bịnh hủi, đưa vào nhà thương Qui Hòa rồi mất ở đó, ngày 11-10-1940.
Ông từng chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử.
Đã đăng thơ: Phụ Nữ Tân Văn, Saigon, Trong Khuê Phòng, Đông Dương Tuần Báo, Người Mới.
Đã xuất bản: Gái quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1959) gồm có: Thơ Đường Luật, Gái Quê, Đau Thương, Xuân Như Ý.
Tất cả các thi phẩm nầy được nhà xuất bản Tân Việt in lại (1959). Càng ngày thơ Hàn Mặc Tử càng được phổ biến rộng và có nhiều người say sưa. Phần nhiều những người mê thơ Hàn Mặc Tử, lớp thanh niên ngày nọ… thường lê thê lếch thếch ở cá hè quán dơ bẩn và điên loạn… họ điên loạn để tỏ ra giống Hàn Mặc Tử, họ bày đặt đau thương khốn đốn, thơ thì dùng chữ cho sáo, cho kêu, tiếc rằng không tìm được một HànMặc Tử thứ hai để cho mình chiêm ngưởng.
Ngày nào còn bình tỉnh tôi chỉ thích đọc thơ Xuân Diệu, thơ Lưu Trọng Lư với những linh hồn sầu mộng muôn đời đó, cũng như những người làm thơ hôm nay… cái nhẹ và cao sâu của Trần Dạ Từ, Đỗ Qui Toàn và những bài thơ lục bát của Trần Đức Uyển vậy… nhưng, lúc tỉnh cũng như lúc điên… giòng thơ Việt với đôi hình sắc lạ thường rẻ thành hai nẻo… cùng hướng vọng về ân sủng của Thượng Đế, chỉ có Huy Cận ngày xưa, không cầu mong Thượng Đế điều gì, vì thi nhân mang cả cái linh hồn trần gian nầy mà trả lại cho Người. Nhưng đến lúc sầu hận điên đảo khôn nguôi, tôi trở về với Ôn Như Hầu… với Chế Lan Viên… và nhất là với Hàn Mặc Tử. Thơ không vốn để vỗ về lấy đau thương của ai cũng không phải để nói lên cái đau khổ, mà để tạo lập một vũ trụ một cõi mới lạ… điều nói của Loài Người cả đấy thôi… thì dù ở đâu, ở hoang đảo nào, ở một thế giới nào đi nữa, chúng ta vẫn cắm lều cô độc, chúng ta vẫn đến cái đỉnh chót vót của tâm hồn tẻ quạnh của ta và chừng đó hoặc là trở về cô độc bằng thái độ sống, nếu không, thì chúng ta sẽ điên, điên như Chế Lan Viên, kinh dị như Hàn Mặc Tử và sau này trên một nguồn đó còn có nhà thơ Viên Linh với Hóa Thân xuất bản vừa rồi.
Nhà thơ đi lọc ánh sáng để gieo vần, đơn độc đẩm mình trong suối ngọc cỏ thơm, trong niềm đau thương xô đẩy đến một thế giới trăng sao lộng lẫy. Thi ca là nguồn suối ở trên cõi siêu hình đảo lộn cả mọi suy tưởng đậm đà của tình nhân gian sầu mộng. Ở đó chỉ có linh hồn thi nhân và trân châu ngọc bích của Thượng Đế. Ở đó sự kỳ lạ được nhà thơ điểm vào óng ánh tinh khí, thực thể trơ thành huyền hoặc lý lẽ cõi đời không có đất nẩy mầm, cõi điên loạn dị thường được soi trong cặp kính của một vì Sáng Thế, được gảy bởi cung đàn thiên tiên bất tuyệt.
Từ lắng nghe niềm đau thương vọt máu của sự tình đến khao khát ân ái của nhục thể, từ lang thang cô đơn ở trong xã hội gọi là chỗ hợp quần này tương trợ và thông cảm này… rốt lại chỉ còn vò võ từng đêm, hoảng hốt và đau buốt xương da từng đêm trong bệnh viện Qui Hòa. Từ cõi bị đày này, thi nhân xưa vẫn là người tiên ở thượng giới cho đến cõi tạm bợ đày đọa này, rồi lại bị đày thêm lần nữa ở một vũng cô liêu cũ vạn đời…
Với niềm đau thương của Hàn Mặc Tử người đời còn có thể nhắc tới. Nhưng tiếc rằng nhắc tới để cảm thấy một cuộc đời rất là say đắm… rất là khốn cùng… rất là thơ mộng!!! Chứ nào ai đã cảm nhận một người đó vượt khỏi cái âm u, hoang lạnh của hư vô bủa vây trùng điệp… đen tối mịt mù như thứ mê hồn trận. Những giờ phút tê điên hồn phách, sượng sùng xương da, ở giữa một căn nhà với ngọn nến, trông ra bốn bể đêm tối bủa vây, bãi tha ma hoang lạnh. Linh hồn kinh dị đến tột cùng, choán ngộp cơ hồ nghẹt thở… đau đớn bốc dậy cùng từng sớ thịt, từng đường gân, từng mạch máu, từng phút từng lo âu và khẩn nguyện.
Như một kẻ lâm vào ác mộng, vũ trụ quay cuồng, vang vọng đến tiếng gọi rợn người của tử thần rình rập. Cựa quậy khôn thoát, cuối cùng thể xác đành ngã gục… đành tê điên, đành tan rả, nhưng linh hồn Người đã đến một nơi cư ngụ bình yên… Trong đời ta, ít nhất là ta đã va chạm một lần với cái chết khủng khiếp, ta mê cuồng và thét gọi; ta điên đảo và bấu víu vào đời sống này một cách vừa bi thảm vừa run sợ. Ít nhất là như thế… ta mới cảm thông với một người trải nhiều ác mộng, luôn luôn thấy bàn tay lông lá của tử thần vương đến chụp xuống đầu cổ, vò bóp xương da. Cuộc chiến đấu bất lực của con người với định mệnh ác nghiệp, cuộc chiến đấu giữa thể xác tanh hôi ghì kéo linh hồn chìm ngập trong đó, và ý chí thi bay vượt lên, điểm linh hồn với cõi trú ngụ mông lung mù mịt của thế giới trăng sao huyền hoặc của tho Người.
Thơ Hàn Mặc Tử không nên đọc trong lúc bình tỉnh vì nó sẽ dẫn ta vào chơi vơi hoang đảo trong đêm biển mù tăm. Nhưng lúc quá đau thương, ta vào cõi thơ của người để mà lảo đảo, hít làn tinh khí trăng sao, của hoa trái thanh tân, nhìn thấy ngất trời tinh đẩu, với nỗi đau đớn lạ thường, cảm giác lạnh tê. Ở đó, ta chịu nhận hồn ta vào cõi vô cùng nọ, ta cùng lùa ánh sáng như lùa một thứ tình mộng, như lù những làn sóng trong ngần của bầu trời tinh mơ, của biển vàng rực rỡ. Ta sẽ vơi bớt nỗi đau đớn mà cảm thấy một hồng ân, bánh mật của Thượng Đế. Và kẻ nào từ chối thứ bánh mật đó, từ chối mọi ân sủng thiêng liêng đó… cũng đứng lên than vãn cõi đời ô trọc làm chi nữa, đừng tìm làm chi nữa hạnh phúc ở trong cõi trần này. Nếu có gan liều phó mặc với triều sóng thời gian đẩy ra khơi mãi thì đừng đọc thơ Hàn Mặc Tử nữa, sẽ tự dựng lấy một thế giới riêng, ở đó mặc tình vùng vẫy.
Nói về thơ Hàn Mặc Tử, ngẫm nghĩ lại, mình không nói được gì cả… bao nhiêu lời từ trước đến giờ như là cây mục, như là cỏ khô… bởi vì thơ người quá ư tràn trề ánh sáng, nhưng lúc tắm trong vùng ánh sáng nọ, thoát nó lại biến mất… lúc ta ngỡ thơ chàng là ánh sáng thái dương thì thơ chàng lại là vầng trăng thiên cổ… lúc ta nắm được linh hồn, nắm được bản chất thơ của Người ở cõi đời này… thì thơ chàng đâu có… mà ta cầm nắm đâu, vì:
Người thơ chưa thấy ra đi nhỉ?
Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ.
Và chân lý mà ta thấy được ở tận cõi xa mù nào… không thể hiểu nỗi nữa!
Trần Tuấn Kiệt
_______________________________________
* Trích Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại – Quyển I của Trần Tuấn Kiệt.
NHỮNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG HÀNH TRÌNH THƠ HÀN MẶC TỬ
NHỮNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG
HÀNH TRÌNH THƠ HÀN MẶC TỬ
Đặng Thị Ngọc Phượng
“Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”
(Chế Lan Viên)
Có thể nói rằng từ năm 1932 đến năm 1945 là thời kỳ hoàng kim, thời kỳ ánh sáng của văn học Việt Nam nhất là trong lĩnh vực thi ca. Với một thời gian ngắn ngủi hơn 10 năm, thi ca Việt Nam đã làm trọn một chuyến đi kéo dài 100 năm của thi ca Pháp. Mặc dù ai cũng biết Thơ Mới đã chịu ảnh hưởng của phương Tây, nhất là nước Pháp rất nhiều.
Các nhà thơ Việt Nam ở thời kỳ này mỗi người một phong cách đều tìm cho mình một mảnh vườn sáng tạo để gieo trồng và gặt lấy những hoa trái riêng. Song chỉ một mình Hàn Mặc Tử là hiện tượng duy nhất. Ở giai đoạn cổ điển, ông có Lệ Thanh thi tập, sang giai đoạn lãng mạn ông có Gái quê, đến tượng trưng và siêu thực ông có Đau thương và một phần Xuân như ý. Giai đoạn sau cùng, ông lại quay về cổ điển nhưng là tân cổ điển, ông có Thượng Thanh khí và Cẩm châu duyên. Có thể nói, thơ ông là một hành trình nghệ thuật khép kín giống như một vòng tròn. Cuối vòng tròn lại gặp điểm xuất phát nhưng nghệ thuật của ông ở giai đoạn tân cổ điển này có các chiều kích cao hơn, xa hơn, rộng hơn và sâu hơn.
Cuộc sống của nhà thơ là một cuộc vật lộn suốt đời với bệnh tật hiểm nghèo, dai dẳng, bất phân thắng bại. Sự đau thương về bệnh tật đã đày đọa nhà thơ lên đến tột đỉnh, tưởng như tất cả nỗi khổ của thế gian hội tụ đầy đủ để trút ngập lên một thi mệnh thiên tài mỏng manh yếu ớt và yểu mệnh, nhưng cũng để từ đó chói sáng những vần thơ quằn quại đớn đau mà biểu tượng rực rỡ nhất là: Trăng, Hồn và Máu.
Thơ của Hàn Mặc Tử đã và sẽ còn mãi mãi là nỗi ám ảnh sâu sắc đến người đọc nhiều thế hệ, bởi ma lực của “nghệ thuật ẩn dụ“. Hình ảnh thơ độc đáo, ngôn từ vắt ra từ xương thịt máu huyết và tim óc đưa công chúng chiêm ngưỡng từ một ngôi đền huyền bí đến một tòa thánh chói lòa siêu thực đầy những cảm giác đê mê và rùng rợn. Đây là một thế giới tâm linh ngổn ngang giống như một bản “Đại hợp xướng” có đủ các âm sắc cung bậc tạo nên một phong cách độc đáo. Đường nét kiến trúc trong thơ ông, tòa bảo tháp của thơ ông xây dựng bằng những khát vọng từ thân xác, trái tim, trí tuệ. Từ những cảm xúc vô thức sâu thẳm, tâm linh ông đã đạt đến đỉnh cao nhất của tự do sáng tạo, để lại cho đời những kiệt tác bất hủ. Người chưa hiểu ông, chưa hiểu thơ ông tưởng là ông điên. Nếu là ông điên thật thì đây là Người Điên phải được kính trọng. Một- Người- Điên- Phi- Thường.
Biểu tượng Trăng, Hồn và Máu thường xuyên xuất hiện trong các tập thơ của ông nhất là Trăng mà ta luôn bắt gặp sự phóng chiếu của nó ở nhiều góc độ. Ông đã độc chiếm nàng Trăng của thế giới thi ca làm chất liệu không gì thay thế cho những cảm xúc sáng tạo nghệ thuật ở cấp độ cao nhất.
Tất cả các nhà thơ từ cổ chí kim kể cả các nhà Thơ Mới ai chẳng dùng hình ảnh trăng là đối tượng miêu tả, biến nó thành thi hứng nhưng có lẽ nhiều nhất là Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử. Có điều trăng trong thơ Xuân Diệu chỉ là: “Trăng vừa đủ sáng để gây mơ”, để mời gọi: “Hương đêm say dậy với trăng rằm” và trong những đêm “Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời”, gợi cho thi nhân những hoài niệm “Tầm Dương” có “một vừng trăng trong vắt lòng sông”, “lạnh lẽo suốt xương da”. Ngay cả trong bài thơ Trăng mà đương thời Xuân Diệu rất tự hào coi đó là đỉnh cao của nghệ thuật tu từ mở đầu bằng hai câu:
Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi
Hoặc: Bâng khuâng chân tiếc dậm lên vàng
Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang
cũng chỉ gây được một cảm giác bâng khuâng nhẹ nhàng cho người đọc. Hai câu thơ hay nhất của bài thơ này: “Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá! Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ” thì hiệu quả được đẩy lên cao hơn. Đúng là trăng trong thơ Xuân Diệu chỉ là “vừa đủ sáng” để sương gió “nương theo”. Dù nó có “lạnh buốt”, dù nó có “nhập vào dây cung nguyệt lạn” hoặc “Sao vàng lẻ một trăng riêng chiếc” để thi nhân có thể “Hớp bóng trăng đầy miệng nhỏ xinh xinh” nó cũng không gây được ngạc nhiên hoặc cảm giác mãnh liệt cho người đọc. Biểu tượng nàng Trăng của Xuân Diệu nặng về phong cách lãng mạn, trực tiếp miêu tả đối tượng để bày tỏ ý nghĩ nội tâm mang nhiều cảm xúc hơn là cảm giác.
Ngược lại, vị giáo chủ của Thánh đường thơ Trăng Hàn Mặc Tử đưa chúng ta vào bầu trời đầy ấn tượng bằng “gợi cảm chứ không phải truyền cảm” [1, 215] với một trường liên tưởng kỳ diệu: lúc sợ sệt, lúc kinh ngạc và choáng ngợp mê man trước những hình ảnh dị thường. Ngay từ giai đoạn đầu tiên mới làm thơ ở Lệ Thanh thi tập, Hàn Mặc Tử đã loé lên những tia sáng khác lạ khiến mọi người phải ngỡ ngàng:“Hé cửa nhìn trăng, trăng tái mặt” hay “Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối” và:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi.
(Bẽn lẽn)
Ở đây, thi sĩ đã đưa bản năng rạo rực khát khao của mình ra ngoài vũ trụ và đã nhận thức mình là một bộ phận của nó. Hàn Mặc Tử đã xây dựng cho ông một thế giới thơ riêng khi ông hòa tan vào thiên nhiên vui buồn, đau khổ, cuồng nộ và bạo liệt như tính chất thất thường dữ dội của nó. “Ánh trăng mỏng quá che không nổi/ Những vẻ xanh xao của mặt hồ” (Huyền ảo), dường như vũ trụ bao la vẫn còn chật không đủ chỗ cho tiềm thức của ông du ngoạn, không che chở nổi những trống trải cô đơn ghê sợ của tâm linh. Sau này khi tiến xa hơn thì thơ ông hoàn toàn là một thế giới siêu thực mênh mông huyền ảo: “Sao bông phượng nở trong màu huyết /Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu” (Mật đắng) để đến nỗi “Tiếng hú hồn tôi xô vỡ sóng”. Trong các nhà Thơ Mới chỉ mình ông đi liền một mạch từ lãng mạn đến siêu thực. Sống trong nghèo khổ bệnh tật, ông luôn phân thân, hoang tưởng mà tư duy nghệ thuật là một trường mộng mị dài dằng dặc đến cuối cuộc đời. Thơ ông là một thứ Kinh thánh thấm đẫm tinh thần tôn giáo, thăm thẳm lời cầu nguyện đến vĩnh hằng và thượng đế.
Cuộc sống của ông là cuộc sống của Trăng: “Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ /Đầy mình lốm đốm những hào quang” (Ngủ với trăng) với màu sắc Liêu trai lúc nào cũng “Lâng lâng mây khói quyện trăng đêm” để bay lên “Nguyệt thềm” cùng tôn giáo của riêng ông. Ông chứng kiến “Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu”, chứng kiến sự hồi hộp khát khao của chị Hằng hay của chính mình: “Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”(Bẽn lẽn) rồi cùng “Trăng xuân tràn trề say chới với” để lại cái ánh sáng ma quái ghê rợn “lờn lợt” như kim đâm nhoi nhói vào trái tim người đọc. Mối quan hệ đặc biệt giữa trăng và nhà thơ nhất là một người mang bệnh phong ác hiểm mà thời bấy giờ vô phương cứu chữa do trình độ y học hay đó là định mệnh đã đóng đinh lên số phận nghiệt ngã để chúng ta có một nhà thơ quái kiệt đau thương. “Người trăng ăn vận toàn trăng cả” dù đói nghèo, dù rách rưới, dù “Gió trăng sẵn có làm sao ăn?” kể cả nỗi khổ của sinh nhai tưởng chừng đã lên tới đỉnh điểm nhưng sự nghèo đói của ông không phải là nghèo đói bình thường, nó là một thứ cao sang thanh khiết ở cõi tinh thần.
“Trăng, ánh trăng đã để lại những cảm giác vật chất lên thân xác Hàn Mặc Tử” [1, 229]. Đúng vậy,cảm giác vật chất hữu cơ của ánh trăng đè nặng lên thân xác ông, cuộc đời ông, khác với Xuân Diệu khi nhà thơ này thi vị hóa nó thì ông trần tục hóa nó vì nó biết “Leo song sờ sẫm gối” nó“sóng soãi “lơi lả mơn trớn vuốt ve, nó trần truồng để “Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”, dù “mới lớn lên” nó đã biết “thẹn thò” và “thơm như tình ái”. Vầng trăng của thơ ông mang tính hai mặt: vừa vật chất, vừa tinh thần, vừa trần tục lại vừa thiêng liêng.“Hàn Mặc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra, và rú lên những tiếng ghê người”[2, 204]. Ông không thể thoát ra khỏi sự ám ảnh ghê gớm của nó, lúc nó tối tăm, lúc nó chói lòa như hai mặt đối lập của Thiên đường và Địa ngục. Trong một “Không gian dầy đặc toàn trăng cả/Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng” (Huyền ảo), ông mặc quần áo bằng một thứ vải trăng, ông ăn trăng, ông uống trăng, ông nuốt trăng, ngậm trăng rồi giao hoan cùng nó, hóa thân vào nó:
Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra
(Say trăng)
Trăng ở đây cũng chính là Hồn và Máu của thi nhân. Hàn Mặc Tử sống với những cơn đau triền miên khủng khiếp “sượng sần tê điếng”, ”Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên”, không ai chia sẻ một nỗi đau bệnh hoạn và cô độc kể cả Thượng đế. Nhiều lúc nhà thơ muốn: “Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm/Cho trăng ngập đần lên tới ngực” (Hồn là ai). Thơ ông là những dòng đầy máu lệ, đầy tiếng thác gào của một cơn thác nước mắt trong suốt tuôn vào gió bụi. Bệnh tật đã khiến cơ thể ông hao mòn suy nhược nhưng ngược lại nó cũng khơi ngòi cho ông một nguồn cảm hứng sáng tạo vô biên. Ở ông, đau thương đồng nghĩa với sáng tạo. Ông dùng nó làm một phương tiện cứu rỗi, ông đưa nó lên cung bậc cao nhất của nghệ thuật:
Cứ để ta ngất ngư trên vũng huyết
Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết
Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh.
(Rướm máu)
Ngôn từ ông sử dụng nằm cạnh nhau đã đẩy giá trị của chúng thành châu ngọc vô giá. Hồn và Máu trong thơ ông đã thăng hoa thành hương thơm nghi ngút linh thiêng kết tụ ở tập Đau thương như là một tập thơ hay nhất trong sự nghiệp của ông. Cái ước nguyện sáng tạo của ông dữ dội và mãnh liệt: “Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút/Mỗi lời thơ đều dính não cân ta/ Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt/Như mê man tê điếng cả làn da” (Rướm máu). Có vẻ như bệnh hoạn, có vẻ như điên rồ, nhà thơ tràn đầy khoái cảm đến cực độ khi thấy máu mình chảy, tim óc mình vỡ văng ra khỏi cơ thể để đau thương được tan vào vũ trụ và tinh tú nhật nguyệt đều chiếu lên không trung cái màu đỏ ghê sợ ấy: “Bao giờ mặt nhật tan thành máu” để “khối lòng”, “niềm yêu”, “ý nhớ” cũng “Hoá thành vũng máu đào trong ác lặn” giữa một vùng không gian bao la toàn máu!
Càng về cuối đời, thơ ông càng tha thiết, thanh thoát, an nhiên, chấp nhận, không còn chất gào thét điên cuồng dữ dội như đã trút hết cơn “lâm lụy” nơi trần thế, dọn sạch mình để chuẩn bị đi vào cõi vĩnh hằng viên mãn một vườn Xuân như ý, Cầu nguyện để lại “ra đời” làm một Á Thánh cưỡi “Phượng hoàng bay trong một tối trăng sao” (Đêm xuân cầu nguyện), tận hưởng phúc lạc của Mùa xuân hôn phối:
Như song lộc triều nguyên ơn phước cả
Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng
Thơm tho bay cho đến cõi Thiên Đàng
(Thánh nữ đồng trinh Maria)
rồi “cảm động rưng rưng hai hàng lệ” vì biết ơn đấng tối cao, Đức mẹ và “các vị rất thánh” đã “giàu đức, giàu muôn hộc từ bi” để nhà thơ vui vẻ “hớp bao nhiêu khí vị” bởi “Trong miệng ngậm câu ca thần bí /Và trong tay nắm một nạm hào quang/Tôi no rồi, ơn võ lộ hòa chan” (Thánh nữ đồng trinh Maria). Thi nhân đã coi mình là một “Thánh thể kết tinh” đã tìm thấy nơi mình đến nên ông đã thành kính “Cho tôi thắp hai hàng cây bạch lạp/Khói nghiêm trang sẽ dâng lên tràn ngập/Cả hàn gian, cả màu sắc thiên không” rồi “đê mê nguyền ước”:
Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước
Cho tình tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm
Thơ trong trắng như một khối băng tâm
Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu
(Thánh nữ đồng trinh Maria)
Như vậy, Trăng, Hồn và Máu đã trở thành biểu tượng nghệ thuật bất biến, thường trực và xuyên suốt trong thơ Hàn Mặc Tử. Từ lúc bắt đầu làm thơ cho đến những ngày cuối đời ông, biểu tượng này đã theo ông bay lên “Trên thiên triều ngời chói vạn hào quang”.
Trong cuộc đời 28 năm ngắn ngủi, chỉ 12 năm đi với nàng thơ nhưng Hàn Mặc Tử đã đưa được nàng thơ lên đến tuyệt đỉnh của nghệ thuật. So với những thi sĩ cùng thời, ông đã trở thành ngọn núi khổng lồ cao sừng sững trên bầu trời rực rỡ của thi ca và để lại cho đời những kiệt tác rung động lòng người. Tiếc thay! Tài cao không sống lâu! Nhưng sống như ông, sáng tạo như ông thì chỉ có ông mới có một sự nghiệp phi thường để hậu thế muôn đời sau luôn kinh ngạc, ngưỡng mộ và kính phục. Hàn Mặc Tử chính là niềm tự hào của nền văn học Việt Nam – một Thánh Thi với cái tên là Bất Tử chói sáng hào quang trên bảng Phong Trần.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đỗ Lai Thúy. Mắt thơ, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội (2000).
- Hoài Thanh, Hoài Chân. Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội (TB 2000).
- Lại Nguyên Ân (tập hợp và biên soạn). Thơ Mới 1932 – 1945 tác giả và tác phẩm, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội (1998).
THE ARTISTIC SYMBOLS IN THE JOURNEY
OF POEMS OF HAN MAC TU
Dang Thi Ngoc Phuong
SUMMARY
While fighting against the serious disease which caused painful impacts upon his short but talented poetic fate,Han Mac Tu wrote dazzling painful poems with the most glorious artistic symbols: Moon, Soul and Blood that profoundly obsess the readers. The disease eroded his body but at the same time created endless inspiration for him. To him, pain meant creativity.
Moon, Soul and Blood were the permanent and unchangeable artistic symbols of Han Mac Tu’s poems. From the day, he wrote the first poems till the end of his life, the symbols flew with him up to the peak of art.
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 26, 2005
THỌ GIỚI
THỌ GIỚI
Trong Phật giáo Ðại thừa, Giới không phải chỉ là một căn bản chung cho mọi người tu Ðạo của bất cứ tông phái nào, Giới cũng không phải chỉ là một bài học vỡ lòng về Ðạo, hay chỉ là một sự thực hành phụ kèm theo các sự thực hành chính yếu của Thiền Quán, mà Giới còn là một chủ trương và thực hành chính yếu lập thành một Tông phái riêng rẽ quan trọng nữa. Mà đã là một tông phái thì phải có giáo thuyết lập trường chính xác và rõ ràng. Chính vì thế mà mọi ý nghĩa về Giới mới được quán sát và giải thích tinh vi tường tận qua các tổ sư của Luật tông. Sự hiểu lầm hay lơ là về thật nghĩa của Giới thường bị các tổ Luật tông than phiền và chỉ trích… Dù gì đi nữa thì bất kể tông phái sai khác, Giới vẫn là một cánh cửa mà ai cũng phải di qua nếu họ muốn vào trong kho tàng của đạo Phật. Vậy, Giới là gì vậy ? Phần trình bày sau đây chỉ nói về các ý nghĩa căn bản chung của Giới trong khuôn khổ của Giới luật tại gia mà thôi.
Thường khi nói đến thọ Giới, chúng ta thường hay nghĩ ngay là không được làm điều này, không được làm điều kia, phải giữ gìn các điều cấm giới rất khó giữ mà phạm vào là coi như có tội, chúng ta cảm thấy Giới như một sự gò bó khó chịu, một gánh nặng phải đeo mang. Nếu có ai trì giữ được nghiêm ngặt thì quá lắm được mọi người xung quanh khen tặng và thán phục, nhưng rồi để làm gì thì chúng ta không mấy rõ ràng lắm. Ðại đa số thì chỉ lo là “khó lắm ! giữ không được tội chết !”. Chúng ta làm như thể rằng là đức Phật, khi Ngài chế lập ra Giới, là vô tình hay cố ý đã tạo cho chúng ta một vấn đề khó xử. Có người thành tâm muốn thọ Giới, song băn khoăn “tham sân si như mình thì làm sao giữ giới đây ?”. Có người tự hào là chỉ có mình là giới hạnh vẹn toàn, có người chuyên dùng Giới để xoi mói và chỉ trích người khác.
Có phải chăng đức Phật chế lập ra Giới là để tạo ra tất cả mọi vấn đề nêu trên ? Dĩ nhiên là Không ! Và để xác định cái chữ “Không” này, chúng ta cần phải xác định lại về ý nghĩa chính yếu của Giới vậy.
Trước tiên nói đến Giới, chúng ta cần thiết phải phân biệt ngay ra hai thành phần chính yếu của Giới, đó là Giới thể và Giới tướng. Khi nghe nói đến Giới, lập tức người ta nghĩ ngay là không được làm điều này, không được làm điều kia, nghĩ ngay đến các giới điều mà mình phải trì giữ. Các điều không được làm ấy, các Giới điều ấy, được gọi là Giới tướng. Chúng ta cho rằng thọ Giới có nghĩa là nhận lãnh các Giới tướng ấy mà trì giữ, và đó là toàn thể ý nghĩa của thọ Giới. Nghĩ như thế là một thiếu sót quá lớn và dễ đưa đến các nhận định sai lạc hoàn toàn về ý nghĩa chân chính của Giới. Trái lại và đúng ra, khi nói đến chữ Giới, tức nói đến Giới thể, khi nói đến thọ Giới, tức nói là thọ nhận Giới thể ; khi trong Luật nói một người đắc Giới, thì có nghĩa là người đó đắc Giới thể chứ không phải là Giới tướng, tức các giới điều này nọ. Tất cả toàn bộ các nghi thức thọ Giới đều là các pháp thức truyền trao và thọ nhận Giới thể chứ không phải là truyền trao hay thọ nhận Giới tướng. Vậy Giới thể là gì vậy ?
Ðức Phật không bao giờ giết hại dù là đối với bất cứ chúng sinh loại nào. Loài người chúng ta, đa số chỉ không giết chính loài người, chứ còn các loài khác thì chúng ta vẫn giết hại như thường. Ngay cả đối với loài người, đôi khi chúng ta chỉ không giết người lành, chứ còn kẻ ác, kẻ thù thì vẫn coi là giết được. Vậy khi chúng ta không giết hại một người hiền, thì hành động không giết của chúng ta có khác gì vói hành động không giết của đức Phật hay không ? Trên mặt hiện tượng thì không khác nhau, song trong Luật cho là không hề giống nhau chút nào. Vì hành động không giết của chúng ta chỉ giới hạn nơi người hiền mà thôi, với kẻ ác và kẻ thù chúng ta có thể giết ; trong khi đức Phật hiền hay ác, thân thay thù, Ngài cũng không bao giờ giết. Vậy nếu tôi cũng không giết ai hết dù là kẻ ác hay người thù thì phải chăng hành động không giết của tôi sẽ không khác gì với hành động không giết của đức Phật ? Vẫn khác, vì hành động không giết của tôi vẫn chỉ giới hạn nơi loài người mà thôi ; còn Phật không giết là đối với tất cả mọi loài hữu tình. Nếu tôi cũng vậy, không giết bất cứ loài hữu tình nào hết, thì có khác gì với hành động không giết của đức Phật hay không ? Vẫn khác, vì có thể gặp trường hợp chẳng đặng đừng tôi vẫn phải ra tay giết như thường ; Phật không vậy, dù là bất cứ trường hợp nào, tế nhị ra sao đi nữa, Ngài cũng không giết. Vậy nếu tôi cũng thế, thà là mất mạng của chính mình chứ quyết không giết bất cứ loài nào trong bất cứ hoàn cảnh nào, như thế tôi có có được hành động không giết của đức Phật rồi hay chưa ? Vẫn chưa, vì hành động dứt khoát không sát của tôi vẫn chỉ giới hạn nơi hiện tại và trong một khoảng không gian hạn hẹp này thôi ; trong khi hành động không sát của đức Phật thể nhập khắp hết mười phương và ba thời vô cùng tận. Song nếu tôi cũng thế, tôi sẽ không sát khắp cùng hết mười phương và ba thời thì sao đây ? Không lẽ vẫn không phải là hành động không sát của đức Phật ? Vẫn hoàn toàn không phải ! Vì hành động không sát viên mãn đó của tôi vẫn đưa đến luân hồi nên ô nhiễm và không giải thoát ; trong khi hành động không sát của đức Phật hoàn toàn chấm dứt luân hồi nên thanh tịnh và giải thoát.
Bằng mọi cách, cho dù tôi có thực hành các điều không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói láo v.v… có vẹn toàn đến đâu đi nữa, tôi vẫn chỉ là người làm thiện chứ không phải là người trì Giới. Bởi vì các việc làm thiện ấy vẫn đưa tôi vào luân hồi bất tận như thường ; trong khi Giới có nghĩa là vượt thoát ra khỏi luân hồi. Thế nên trong Luật tông mới nhắc nhở chúng ta cần phải biết phân biệt giữa thiện và Giới là vậy. Bằng cách nào đi nữa hành động không giết của chúng ta vẫn chỉ là thiện luân hồi, và chỉ có hành động không giết của đức Phật mới là Giới giải thoát. Tại sao tôi không thể y như đức Phật mà tôi vẫn chỉ có thiện thôi chứ không sao có Giới được ?
Bởi vì làm sao đi nữa thì tôi vẫn là tôi, Phật vẫn là Phật. Có nghĩa là bản thể của tôi luôn luôn chỉ là vô minh chấp ngã, tham sân si, trong khi bản thể của Phật luôn luôn lại là giác ngộ vô ngã, thanh tịnh giải thoát. Từ bản thể thanh tịnh giải thoát vô ngã này tự động đức Phật, đối với vô lượng pháp giới chúng sinh trong ba thời mười phương, không bao giờ lại giết, trộm, dâm hay vọng… Các hành động không giết, không trộm… này có bản thể là thanh tịnh giải thoát giác ngộ vô ngã, nên chúng được gọi là Giới. Trong khi các hành động không giết… của tôi được điều động từ bản ngã của tôi, từ tâm phân biệt phải trái đúng sai, từ tình cảm thương ghét nặc mùi tham sân si của tôi, bản thể của chúng ô nhiễm như thế, thế nên chúng chỉ là thiện chứ không sao là Giới được.
Do đó, nếu tôi muốn các hành động không giết v.v… của tôi trở thành Giới, thì tôi phải làm sao cho các hành động thiện ấy có được một bản thể thanh tịnh giải thoát y như của đức Phật. Khi các hành động thiện này có được một bản thể thanh tịnh như thế rồi thì chúng mới được gọi là các điều Giới tướng, và bản thể thanh tịnh giải thoát kia của các điều Giới tướng kia được gọi là Giới thể.
Thọ Giới do đó chính là để thọ nhận Giới thể này vậy. Do đó, điều một người thọ Giới phải phân vân là làm sao để đắc được Giới thể chứ không phải là có giữ được điều này hay giữ được điều kia hay không. Và thọ Giới không có nghĩa là vào một kỷ luật sắt thép nào đó để rồi cứ tiếp tục lòng vòng trong các cõi luân hồi bất tận, mà thọ Giới có nghĩa là thâu nhận lấy một bản thể thanh tịnh giải thoát vào tâm mình để rồi ra sức trì giữ và phát triển cho bản thể ấy trở thành quả giải thoát viên mãn khỏi luân hồi. Thọ Giới như thế là gieo nhân mà giải thoát Niết Bàn là kết quả, con đường hay tiến trình từ nhân đến quả gọi là Ðạo. Người thọ Giới như thế là người cất bước đi vào con đường Ðạo giải thoát, một con đường tâm linh, chứ không phải là một người hành thiện hay một nhà đạo đức.
Như vậy, vấn đề thọ Giới hoàn toàn thuộc về con đường Ðạo. Khi một người lưỡng lự không biết là mình có nên thọ Giới hay không, thì đó có nghĩa là mình có nên chấp nhận đức Phật làm Thầy hay không, có nên quy y về với Tam Bảo hay không, có nên đi theo Ðạo Phật, tức con đường mà đức Phật chỉ ra, để đạt đến cứu cánh giải thoát hay không, chứ không phải lưỡng lự chỉ là vì chưa giữ được giới điều này hay làm sao giữ được giới điều kia. Một khi đã dứt khoát là chúng ta sẽ “theo” Ðạo Phật, thì bước đầu tiên để đi theo ấy chính là thọ Giới, là làm sao có được một bản thể thanh tịnh gọi là Giới thể cho sự tu tập của mình trở thành một sự hành đạo, tức có nghĩa là mình đi trên con đường Ðạo vậy. Muốn có Giới thể ấy, chúng ta cần phải thực hiện pháp thức thọ Giới. Vậy pháp thức thọ Giới này ra sao mà chúng ta có thể đạt được một Giới thể như thế ?
Pháp thức thọ Giới giản dị chỉ là thực hiện sự Quy Y cho chúng ta. Quy y có tác dụng nhằm thọ nạp lấy bản thể thanh tịnh giải thoát từ đức Phật truyền vào trong tâm của chúng ta để trở thành Giới thể thanh tịnh giải thoát của chúng ta. Các tổ Luật tông Trung Hoa dựa theo Tứ phần Luật xác định rằng chính ngay lúc Tam quy vừa chấm dứt là lúc thọ đắc Giới thể ; và đồng thời các ngài thể theo Thành Thật Luận và Duy Thức Tông mà xác định tiếp rằng Giới thể ấy là chủng tử Ðạo thanh tịnh và giải thoát được gieo vào trong A Lại Gia Thức của người thọ giới, nhờ có chủng tử như thế nên khi chúng ta ra sức tu hành mới có được kết quả của Phật Ðạo. Tam quy để có Giới thể như thế là căn bản duy nhất phải có của toàn thể tòa kiến trúc của Ðạo pháp, như một nhà trồng trọt muốn có hoa mầu để thu hoạch thì cần thiết nhất là phải có hạt giống để mà gieo cấy trước đã. Tâm chúng ta là đất ruộng, Giới thể là hạt giống, hành động quy y là gieo hạt giống vào đất ruộng, nhận lấy Giới tướng để tu trì là cầy cấy tưới bón chăm sóc cho hạt giống tăng trưởng. Ðạo quả là vụ mùa thu hoạch được.
Quy y do đó có tầm vóc quan trọng bậc nhất đối với sự tu hành trên con đường Ðạo Phật, song vẫn luôn luôn bị người Phật tử lơ là và coi nhẹ, chúng ta thường coi đó là một hình thức lấy lệ. Chúng ta cho rằng tu hành là phải thực hành pháp môn này hay pháp môn kia thì mới là tu hành. Nhưng nếu chúng ta không có được một chủng tử Ðạo trong tâm thì hành pháp môn nào cũng chỉ là xây lâu đài trong không. Thế nên chúng ta cần thiết phải quy y thọ Giới để mà có được chủng tử của Ðạo gọi là Giới thể trước khi áp dụng tu tập bất cứ pháp môn nào.
Một cách tổng quát quy y thọ Giới thể có nghĩa như sau : vì bản thể của chúng ta căn bản là tham sân si, nên chúng ta không hề có chủng tử của Ðạo ; chúng ta lại muốn đạt đến kết quả của Ðạo, nên chúng ta hết sức cần có chủng tử ấy. Phật là quả của Ðạo, Ngài là toàn thể những gì là Ðạo, thế nên một khi chúng ta muốn có được chủng tử Ðạo, bắt buộc chúng ta phải nương về Ngài, mong rằng Ngài sẽ truyền đạt cái bản thể Ðạo ấy lại cho chúng ta. Ðức Phật thành Ðạo không ngoài mục tiêu là để cứu độ tất cả chúng sinh, phương tiện để cứu độ này chính là Tam Bảo, tức là nơi mà bản thể thanh tịnh giải thoát và giác ngộ hiển hiện ra trọn vẹn toàn thân, được coi như một suối nguồn truyền đạt Ðạo chủng đến cho tất cả chúng sinh vậy.
Lại vì Ðạo hay bản thể thanh tịnh giải thoát của Ngài chính là bản Tâm của Ngài, thế nên Ngài không thể truyền lại cho chúng ta như truyền một cái y hay truyền một cái bát, và chúng ta cũng không thể thọ nhận bằng cách đưa tay ra lấy như lấy cái y hay cái bát được. Mà Ngài truyền Ðạo là truyền từ Tâm của Ngài qua âm thanh và chữ nghĩa bằng cách nói Pháp (tức ngữ nghiệp), và chúng ta đón nhận lấy cũng bằng tâm của chúng ta qua sự tác ý lắng nghe âm thanh từ ngữ của Ngài, rồi tư duy về các ý nghĩa của các từ ngữ ấy. Tâm thanh tịnh của Ngài, xuyên qua các ý nghĩa và các từ ngữ ấy, sẵn sàng để thâm nhập vào trong tâm địa của chúng ta. Nếu chúng ta phát lòng tin tưởng và mong muốn đi theo Ngài, có được Ðạo như Ngài, thì lúc ấy chúng ta cần phải dùng đến ba nghiệp mà thực hiện pháp thức Tam quy, nhờ đó Tâm đạo thanh tịnh giải thoát và giác ngộ của Ngài sẽ truyền thẳng vào tâm chúng ta để trở thành Giới thể trong tâm chúng ta.
Lại vì tâm của chúng ta vẫn luôn là tâm phiền não vô mình ngã chấp, thế nên các Giới pháp mà đức Phật truyền sang tâm chúng ta khi ở nơi Tâm Ngài thì là một kết quả hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Khi truyền qua tâm chúng ta thì các Giới pháp thanh tịnh ấy bị pha trộn lẫn lộn với các pháp phiền não vô minh ngã chấp nơi tâm chúng ta, song Giới pháp thanh tịnh ấy không hề bị ô nhiễm lây mà luôn luôn giữ nguyên tính chất thanh tịnh của mình. Có điều nó không hiển lộ ra rõ ràng viên mãn như một kết quả, nó được coi là một chủng tử thanh tịnh trong lòng phiền não, mà trong Luật và Luận gọi là Giới thể vô biểu. Chính nhờ chủng tử vô biểu này mà người tu đạo mới có được kết quả giải thoát vậy. Tại sao lại gọi Giới thể là vô biểu ?
Theo Luật và Luận nói, khi thọ Giới xong rồi, giới tử đã đắc Giới thể, khi ra khỏi giới tràng tâm của giới tử trở lại trạng thái bình thường hằng ngày, nghĩa là các phiền não tiếp tục khởi lên quấy nhiễu, giới tử có thể khởi đủ thứ ác tâm nữa, song cái chủng tử Giới thể kia vẫn tiếp tục có mặt liên tục trong tâm của giới tử hoàn toàn rất ẩn mật, như hạt giống ẩn kín dưới mặt đất không hiển lộ ra bên ngoài, nên được gọi là vô biểu.
Như thế, ý nghĩa thọ Giới rõ ràng là một hoạt động “truyền đạo” hay “điểm đạo“, hay đúng hơn là một hoạt động “lấy tâm truyền tâm” giống như khẩu hiệu “dĩ tâm truyền tâm” phổ thông trong tông Thiền. Tuy nhiên sự khác biệt vẫn là rõ ràng giữa một đàng là Tông môn (tức Thiền tông) một đàng là Giáo môn (tức tất cả các tông phái Ðại thừa khác ngoài Thiền). Trong khi với Thiền, tâm được truyền ở đây chính là tâm của người học đạo, chứ không phải là tâm của một ai khác từ bên ngoài truyền vào, thế nên Thiền thích nói “dĩ tâm ấn tâm” hơn là “dĩ tâm truyền tâm“. Vì với Thiền chính tự tâm của chúng ta là Phật rồi, thì tại sao lại còn cần phải có Phật khác truyền vào nữa ? Trong khi với Luật tông, mà vốn là căn bản của tất cả mọi tông phái khác, thì tâm của chúng ta là tâm phiền não ô nhiễm, khác hẳn với tâm của Phật là giác ngộ và thanh tịnh. Ðã đành Luật tông cũng chấp nhận rằng là tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tâm chúng sinh cũng vốn là bản giác đồng đẳng với tất cả chư Phật, song chúng sinh vẫn là chúng sinh và Phật vẫn là Phật khác hẳn nhau, như nước trong nước đục thì cũng đều là nước, song không phải vì vậy nước đục cũng chính là nước trong.
Thiền tông truyền tâm là chỉ thẳng ra (trực chỉ) cho người học cái tâm thể siêu việt thường hằng phi thời gian phi không gian mà vốn sẵn có ngay đó của họ, và tâm này được trực tiếp truyền đến kẻ học bởi một vị Thầy thật sự giác ngộ.
Trong khi trong Luật tông, cái tâm thể siêu việt kia không phải là vấn đề của Ðạo, của sự tu tập hành đạo với nguyên tắc nhân và quả. Tâm chúng sinh có hai phương diện, nơi phương diện “tâm tức là Phật” thời tất cả tịch diệt bình đẳng từ Phật cho đến ruồi muỗi côn trùng, nơi ấy không có chuyện nhân quả tu tập, không có phân biệt tội phúc thánh phàm gì hết, nơi phương diện này không có tâm nào truyền tâm nào hết, quá lắm là tâm này ấn khả cho tâm kia mà thôi. Cũng như nếu chỉ nói về bản thể của nước không thôi, thì hễ cứ là chất lỏng thấm ướt thì gọi là nước, chứ không có phân biệt gì trong đục, mặn nhạt, nước thuốc nước độc gì hết, tất cả mọi loại nước đều bình đẳng. Song một khi đã nói đến tu tập tức nói đến nhân quả, đúng sai hay dở, thì phải trở qua phương diện “tâm chúng sinh căn bổn là phiền não“, nơi phương diện này Phật là Phật và chúng sinh là chúng sinh, chúng sinh là đau khổ phiền não và Phật là giải thoát thanh tịnh, và chúng sinh phải thọ Giới tu tập vô lượng vô biên kiếp mới thành Phật được, nơi phương diện này người tu muốn có Ðạo chủng thì phải dùng tâm phiền não của mình mà thọ nhận lấy Ðạo pháp ấy từ Tâm Phật truyền sang. Cũng như cùng là nước, song trong vẫn khác với đục, mặn vẫn khác với ngọt, độc vẫn khác với thuốc. Tâm chúng sinh như là nước có thuốc độc, Tâm Phật như nước có chất giải độc, nay thọ Giới là truyền Tâm Phật vào tâm chúng sinh, không khác gì cho nước giải độc vào trong nước độc để trị cho hết độc, chứ không phải cứ nói “nước độc nước thuốc cũng đều là nước“, thế nên cứ chỉ thẳng ra cho thấy nước độc cũng chính là nước thì đó là chân lý tối thượng rồi. Và người truyền ở đây chính là đức Phật hiện thân qua Tam Bảo, còn giới sư truyền giới chỉ là trung gian mà thôi. Bởi vì khi thọ nhận Giới thể là quy y về với Tam Bảo để thọ nhận lấy phần bản thể thanh tịnh ấy nơi Tam Bảo, chứ không phải là quy y riêng với cá nhân của giới sư mà có thể có được Giới thể ấy.
Chính vì trong Luật tông vị thầy chỉ là trung gian để Tam Bảo truyền tâm cho mình, thế nên vị thầy không bắt buộc phải giác ngộ, mà chỉ cần là vị giới sư thọ giới trước mình và hiểu biết rõ ràng về cách thức thọ giới để hướng dẫn và chỉ bảo cho mình, thầy và trò đều là phàm như nhau và đều được Tam Bảo truyền Ðạo sang cho. Do đó cách truyền Ðạo trong Luật tông là phổ thông cho tất cả mọi hạng chúng sinh, không cần phải là một vị “thầy” giác ngộ đặc biệt nào đó và người đệ tử phải là một nhân vật hữu duyên với căn tính siêu việt nào đó, như sơ tổ Ðạt Ma quán vách nhập định chín năm để chỉ đợi chờ có một người mà truyền tâm ấn, đó là nhị tổ Huệ Khả với căn tính siêu việt sẵn sàng chặt tay cầu Ðạo. Với Luật tông, Tam Bảo là Ðạo và là nền tảng Ðạo cho tất cả mọi loài chúng sinh, mọi hạng chúng sinh bất kể căn tính cao hay thấp đều đắc được Giới, nghĩa là đều được Tam Bảo truyền Ðạo sang cho mình, chỉ miễn là mình thực hiện đúng cách pháp thức thọ Giới. Vì thế pháp thức thọ giới hết sức quan trọng trong Luật tông vậy.
Người thọ Giới, tức là giới tử, cần phải có một giai đoạn chuẩn bị để hiểu rõ về các ý nghĩa của Tam Bảo, của Giới pháp, của Giới thể, rồi phải biết cách quán tâm vận tưởng, đại khái như sau : vì bản thể của đức Phật là giác ngộ thoát khỏi tất cả mọi xung lực của kiến chấp và phiền não tham sân si, thế nên bản thể ấy hoàn toàn thanh tịnh giải thoát và chấm dứt tất cả mọi ác nghiệp đối với toàn thể pháp giới chúng sinh. Sự thanh tịnh và chấm dứt ác nghiệp này gọi là Giới pháp, vì pháp giới chúng sinh vốn vô lượng nên Giới pháp này cũng theo đó mà thành vô lượng. Do đó giới tử muốn đón nhận Tâm giới thanh tịnh ấy của Phật vào tâm mình, giới tử cần phải lấy toàn thể pháp giới chúng sinh vô lượng làm cảnh đối tượng để quán và đồng thời phải phát khởi một tâm phẩm thanh tịnh là dứt khoát thực hành giới đối với vô lượng chúng sinh như thế. Thêm vào, giới tử phải thật tâm chân thành và tha thiết mong muốn thâu nhận hết vô lượng vô biên giới thanh tịnh ấy vào tâm mình, trong Luật gọi là tâm “thuần trọng“. Ðể được như thế, giới tử phải quán tưởng thân của mình rộng lớn bao trùm hết hư không giới để thâu nạp trọn vô lượng Giới pháp vào thân tâm mình, trong Luật tông nói : “nếu Giới pháp vốn vô lượng này mà lại là vật chất thì khi thâu nhận vào trong thân này, thân này sẽ nổ tung ra. Cũng vì Giới pháp là tâm pháp, thế nên nhờ vào nghiệp lực quán tưởng bất khả tư nghị của tâm, mà chúng sinh mới thâu nạp Giới pháp được…”
Sau khi đã ý thức rõ ràng hết mọi ý nghĩa chân thật lợi ích vô cùng của Giới rồi, và sau khi đã khởi tâm đúng phẩm, quán tưởng đúng cảnh rồi, giới tử còn cần phải sám hối cho ba nghiệp thanh tịnh nữa. Với Luật tông, cũng như Mật tông hay Tịnh Ðộ tông, ba nghiệp thân khẩu ý là căn bản và là phương tiện duy nhất của tất cả mọi sự tu tập thực hành. Sự thực hành giữa ba nghiệp hầu như quan trọng ngang nhau, chứ không thiên hẳn hoàn toàn về tâm như các tông phái ưa tu thiền quán. Ba nghiệp là phương tiện duy nhất để chuyển biến tất cả tinh túy của Tâm Phật truyền sang tâm mình. Ngay đức Phật, khi Ngài muốn cứu độ chúng sinh thì Ngài cũng không có phương tiện nào hơn là ba nghiệp của Ngài. Vì thế ba nghiệp cần phải dọn sẵn cho thanh tịnh để chuyẩn bị thâu nạp Giới pháp của Phật chuyển sang thành Giới thể của mình.
Nhờ có hiểu rõ về mọi ý nghĩa của Giới rồi, giới tử mới có tâm nguyện tha thiết trân quý thọ Giới và phát tâm quán tưởng đúng pháp. Tâm nguyện ấy thúc đẩy hai nghiệp thân và khẩu của giới tử vào đến giới tràng, trước giới sư, sẵn sàng hoan hỉ chân thành thực hiện pháp thức Tam quy. Ðây cũng chính là giai đoạn chính thức hoạt động của ba nghiệp để thọ nạp Giới thể : giới tử chắp tay quỳ ngay ngắn (tức thân nghiệp), lập lại ba lần theo giới sư lời pháp ngữ Tam quy (tức ngữ nghiệp), và tâm đồng thời thực hành ba quán pháp (tức ý nghiệp). Pháp thức Tam quy vừa chấm dứt là giới tử đắc Giới thể. Tại sao Giới lại chỉ đắc được vào ngay sau lúc pháp thức Tam quy vừa chấm dứt này ?
Bởi vì khi nào cái tâm chấp ngã của chúng ta chịu thật sự quy y về Tam Bảo, thì lúc ấy Tâm Phật hay năng lực của Pháp Phật mới thật sự thâm nhập được vào trong tâm của chúng ta mà thôi, và Tam Bảo mới thật sự trở thành bản thể đạo thanh tịnh cho mọi sự tu hành của chúng ta. Còn cho dù chúng ta có tu hành đúng y như lời Phật dạy mà không có quy y Tam Bảo, thì coi như chúng ta không hề đi theo con đường của Ðạo Phật, bởi vì một sự tu hành như thế chỉ là tu cho “tôi“, theo ý thích “của tôi“, tất cả do “tôi” điều động làm chủ, cái “tôi” vẫn luôn luôn là bản thể của sự tu hành ấy, cho nên nó không bao giờ đưa đến một kết quả đúng nghĩa của Ðạo là giác ngộ và giải thoát.
Ngoài ra, trên phương diện giáo lý thời nếu do một ý muốn thiện hay ác điều động mà thân khẩu phát khởi lên các hành động lộ rõ ý muốn ấy ra, thì các hành động của thân khẩu này được gọi là biểu nghiệp ; và ngay khi các biểu nghiệp ấy hoàn tất, thì các biểu nghiệp ấy không chấm dứt luôn song tiếp tục để lại một “ảnh hưởng” của chúng trong tạng thức không hề lộ rõ ra ngoài, gọi là vô biểu. Vô biểu này chính là nhân để sẽ mang lại quả báo đáp lại tương xứng vói các hành động thiện ác nọ. Do đó muốn có nhân chủng vô biểu của Ðạo gọi là Giới thể, thì dù tâm nguyện đã tha thiết chắc chắn rồi, song vẫn phải đợi đến khi hai biểu nghiệp thân và khẩu quy y xong xuôi thì Giới thể mới thành tựu vậy.
Theo Luật tông thì Tam quy không phải là chỉ vận dụng có hai biểu nghiệp thân khẩu mà thôi, mà chúng ta còn phải phát khởi ý nghiệp theo ba cách quán nữa : khi nói lời Tam quy thứ nhất, giới tử phải quán tưởng do nghiệp lực của tâm thiện khao khát thọ giới của mình mà tất cả vô lượng Giới pháp duyên sẵn nơi vô lượng cảnh giới chúng sinh không còn ở yên nơi đó nữa, mà bắt đầu chuyển động để hướng về nơi giới tràng của mình. Khi nói lời Tam quy thứ hai, giới tử quán thấy vô biên Giới pháp quy về đến giới tràng tụ lại trong hư không ngay trên đỉnh đầu của mình như một đài mây sáng rực khổng lồ hay như một tàng lọng che trang nghiêm tuyệt diệu, chờ sẵn đó để tưới rót vào thân tâm mình. Khi nói lời Tam quy thứ ba, giới tử quán tưởng tất cả các Giới pháp ấy từ trên hư không tuôn rót qua đỉnh đầu mình, tràn ngập vào khắp trong thân tâm mình như tắm gội sạch tất cả mọi trần cấu và tràn đầy an lạc thanh tịnh. Và như thế là Giới thể thành tựu, pháp thức thọ Giới kết thúc. Phần còn lại sau đó là phần giới sư trao Giới tướng.
Theo Luật tông, giới tử không nhất thiết phải thọ nhận hết mọi Giới tướng để tu trì, mà tùy theo khả năng và hoàn cảnh của mình mà chọn lựa từ một giới cho đến trọn hết năm giới. Lý do cho chọn lựa theo khả năng và hoàn cảnh như thế là để cho giới tử có thể thực hành sự trì giới được, và tránh được sự phạm giới vì phải giữ các giới quá khả năng hay không đúng hoàn cảnh của mình. Nhưng lý do chính yếu nhất là thọ Giới là để đắc Giới thể, chứ không phải là Giới tướng. Có được Giới thể rồi thì sự hành trì các Giới tướng sau đó để duy trì và làm phát triển Giới thể này mới có ý nghĩa và mới trở thành cần thiết và quan trọng vậy.
Trong Luật tông, thể theo Thành Thật Luận, còn cho phép tùy nghi mà ước định thời gian thọ Giới nữa. Nghĩa là giới tử có thể thọ Năm giới trong vòng một ngày cho đến một tháng, một đời ; và có thể thọ Tám giới (bát quan trai) trong vòng nửa ngày cho đến suốt đời, chứ không cố định là phải một ngày một đêm.
Hạn kỳ thời gian thọ Giới này rất quan trọng. Nếu một giới tử chỉ nói lên thành lời rõ ràng rằng :”Con tên là… quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng” thì đó không phải là thọ Giới mà chỉ là thọ Tam quy thôi. Nếu muốn Tam quy trở thành là thọ Giới, thì giới tử phải nói như sau :”Con tên là… quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Nguyện suốt đời (hay ba tháng, một năm… tùy ý) làm Ưu Bà Tắc (hoạc Ưu Bà Di, nếu là nữ) Năm giới“. Theo đó, Giới thể sẽ hiện hữu và có mặt trong A Lại gia thức của giới tử cho đến bao giờ kỳ hạn ấy chấm dứt thì Giới thể mới mất theo, nghĩa là người đó không còn có Giới nữa. Theo nguyên tắc thì thời hạn thọ Giới tối đa của tất cả các loại giới như Năm giới, Tám giới, Mười giới cho đến Cụ Túc giới của vị tỳ kheo, chỉ trừ Bồ Tát giới ra, là trọn đời cho đến lúc chết. Tại sao nguyện lại phải có một kỳ hạn như vậy ?
Bởi vì nguyện (tức Tư) là một tác động của tâm thức có tác dụng làm phát sinh năng lực. Mỗi năng lực lại chỉ kéo dài trong một thời hạn nào đó mà thôi, thế nên việc ước định hạn kỳ là một yếu tố chính yếu trợ giúp cho năng lực của nguyện phát sinh. Khi tôi nguyện sẽ thọ Giới trong vòng một tháng, thì năng lực hành giới sẽ phát tiết ra đúng một tháng như vậy. Nếu một tâm nguyện mà không có thời hạn nào hết, thì lực của nguyện cũng vẫn phát sinh như thường, song nó có thể dập tắt, nghĩa là đổi ý bất cứ lúc nào nếu lại có một ý nguyện khác khởi lên. Do đó, thọ Giới phải có ước nguyện hạn kỳ rõ rệt.
Ngoài ra mỗi loại giới đều có Giới thể riêng, như Năm giới có Giới thể của Năm giới, Tám giới có Giới thể của Tám giới v.v… Do đó mà Tam quy tuy là một hình thức, song tùy theo có bao nhiêu loại giới thì có bấy nhiêu loại Tam quy, và dĩ nhiên khi thọ bất cứ loại giới nào, trừ Tỳ kheo giới và Bồ Tát giới, chúng ta cũng đều phải thực hiện pháp thức Tam quy để đắc Giới thể của loại giới ấy.
Những gì được đề cập đến trong suốt bài này tuy là những yếu tố chính yếu và căn bản của Giới luật nói chung, song vẫn chưa bao quát được hết mọi lãnh vực của Giới, như Tỳ kheo giới chẳng hạn, trong lãnh vực ấy vị Tỳ kheo đắc Giới thể không qua pháp thức Tam quy mà bằng pháp thức Yết ma ; và nhất là Bồ Tát giới, một lãnh vực mà nơi đó ý nghĩa của Giới đôi khi như mang hẳn một bộ mặt khác lạ hoàn toàn. Song trước khi bước sang các lãnh vực ấy, chúng ta còn phải hiểu rằng vấn đề thọ Giới trong Luật tông là cả một lý thuyết tinh vi về Nghiệp mà chúng ta sẽ có dịp bàn đến trong một đề tài riêng rẽ. Lại còn ý nghĩa của Tam Bảo, nơi nương tựa của toàn thể chúng sinh, kho năng lực bất tận cung cấp vô lượng nhân chủng thanh tịnh và giải thoát cho vô biên chúng sinh, mà vốn là bản thể của Giới luật, dĩ nhiên là một đề tài tối quan trọng nên cũng cần được khảo sát riêng.
Luật tông, cũng như Thiền tông hay Tịnh Ðộ tông, là các tông phái chuyên về thực hành, nên dù hàm chứa rất nhiều ý nghĩa và giáo thuyết tinh vi thâm sâu song lại ít được khai triển ra cho tường tận rõ ràng, thế nên chúng ta mới thường hay bắt gặp các thành kiến sai lầm như : Giới luật là hình thức gò bó, Tịnh Ðộ là tín ngưỡng bình dân, Thiền tông là mặc tình phá chấp. Thật ra, Luật và Tịnh là hai tông phái của đại chúng, nhằm nối kết vào với Tam Bảo tất cả mọi loại chúng sinh, mọi hạng hữu tình, bất kể già trẻ, nam nữ, khôn ngu, lợi căn độn căn…, cho tất cả được trực tiếp mà nhận lãnh lấy “Ðạo phần” từ nơi Tam Bảo hay từ nơi cảnh giới Tịnh Ðộ, lấy đó làm vốn liếng cho sự nghiệp giác ngộ và giải thoát của mình. Trong hai tông phái này không có “guru” truyền Ðạo cá nhân, không có “Master” điểm Ðạo riêng rẽ nào ngoài Tam Bảo hay cảnh giới Tịnh Ðộ. Các vị thầy chỉ là những người bạn tốt, các thiện hữu tri thức, các kalyànamitra của tất cả chúng sinh ở chỗ giúp cho chúng sinh có được đại sự nhân duyên “gặp gỡ” được Tam Bảo và mười phương chư Phật qua cảnh giới của Phật A Di Ðà, và sự gặp gỡ ấy là tất cả đầu mối của sự nghiệp Ðạo của riêng từng cá nhân mỗi chúng sinh vậy.
tháng 7 năm 1998
